Hiển thị các bài đăng có nhãn diễn đàn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn diễn đàn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 8, 2012

sự xung động trong sáng tác – khổng đức


[Trích dịch từ nghệ thuật triết học của Vương Đức Phong]

Trong hành trình của nghệ thuật sáng tác, bước thứ nhất là hình thành sự xung động sáng tác; nó khác với xung động diễn đạt, vì do hai yếu tố cấu tạo nên. Yếu tố I là do tính siêu việt của tình cảm sinh tồn mà tự thân nghệ thuật gia cảm xúc (tức là siêu việt tính nội dung của đối tượng thực tế). Yếu tố 2 là thông qua sự cảm xúc kích thích mà phát sinh sức tưởng tượng sáng tạo; nghệ thuật gia hình thành một thứ dự cảm ý tượng thẩm mỹ chưa biết rõ.   
 Cơ sở xung động sáng tác gồm có hai phương diện:
 I- Tình cảm sinh hoạt của nghệ thuật gia. Trong cuộc sống hiện thực, mỗi cá nhân chúng ta đều có sự xung động biểu hiện tình cảm, nhưng nếu muốn biến đồi sự xung động ấy thành xung động sáng tác, phải vận dụng tình cảm biểu hiện ấy không thể chỉ là tình cảm của tính đối tượng, mà đồng thời phải là một thứ tình cảm sinh hoạt trong tình cảm.
Tình cảm sinh hoạt của nghệ thuật gia, đặc trưng chủ yếu phải mang tính “nhi đồng tâm”. Thường nhân và nghệ thuật gia đều phải nhiệt tâm yêu cuộc sống, nhưng tình yêu của nghệ thuật gia đối với cuộc sống có chỗ khác nhau. Nghệ thuật gia đối với sự nhiệt tâm yêu cuộc sống vẫn thủy chung ở tâm thái nhi đồng, gọi tắt là “đồng tâm”. Do sự đồng tâm mà đối với nhiệt tâm yêu cuộc sống không hề có dính dáng gì đến tạp chất của thói đời, và do đó tình yêu của nghệ thuật gia càng khoáng đạt và vững chắc lâu dài, đó là điều nó khác với thường nhân. Dĩ nhiên đó là người đã trưởng thành nhưng vẫn bảo lưu được tính nhi đồng đáng quí. Cứ theo ý nghĩa đó mà nói đó là sự chín chắn chân chính.già dặn thói đời, khuất phục mà phán đoán cuộc đời một cách chín chắn khác biệt.
Một người già dặn với thói đời thường có những tình cảm sinh hoạt sâu rộng và chân chính thuần túy, và chỉ căn cứ vào quan hệ lợi hại thực tế không tách rời với sự thể nghiệm nhân sinh sung thực của chính bản thân. Sở dĩ chúng tôi nói sự thành thục chân chính có bao hàm tính nhi đồng, là vì chỉ có sự bảo lưu tính thiên chân của nhi đồng một cách thành thục, thì mới có khả năng sinh ra sự sáng tạo tác phẩm nghệ thuật. Ý nghĩa sáng tạo nghệ thuật là từ trong chu vi của thế giới sinh hoạt bình thường hằng ngày mà phát hiện được thứ sự vật bị che đậy, từ trong đối tượng sự vật đó mà phát hiện thành đối tượng siêu việt chân thực, và trong sự phát hiện ấy lại đạt được nẻo đường tình cảm đã trải qua. Xung quanh thế giới sự vật tình cảm tồn tại không cái gì là không ẩn hàm mối quan hệ nhân tính. Và nghệ thuật chính là làm sáng tỏ sự hoạt động liên hệ đó. Cái tâm thái nhi đồng của nghệ thuật gia khiến cho sự mẫn cảm của ông ta trước sau tạo thành mối liên hệ cảm tính của sự vật tồn tại gắn liền với nhân tính.
Thật ra trong bất cứ lãnh vực nào bao gồm cả lãnh vực nghiên cứu khoa học, phàm cái gì chân chính do con người sáng tạo đều phải bảo lưu tính “đồng tâm” quí báu, không có đồng tâm mà có thể sáng tác là điều “bất khả tư nghị”. Đánh mất sự “đồng tâm” là mất hết năng lực tưởng tượng và dũng khí sáng tạo; vì tất cả sự sáng tạo cần phải có cái không gian tưởng tượng, nó là do cái đồng tâm bảo tồn.
Sự nhiệt tâm yêu thương cuộc sống của nghệ thuật gia, tóm lại có tính chất mộng tưởng, nhưng đó là một thứ mộng tưởng tự giác đạt đến cao độ. Trong mộng tưởng nghệ thuật gia yêu cuộc sống, và tình yêu ấy là cuộc sống chân thực và cao cả. Chính vì lý do đó mà chúng ta mới tránh được sự ngộ nhận, tức cho rằng những tình cảm mà nghệ thuật gia diễn tả trong tác phẩm là trực tiếp, nguyên là cảnh xử sự trong cuộc sống thực tế của ộng ta, tợ hồ những gì ông ta liệt kê trong tác phẩm chính là sự ghi chép cuộc sống của ông ấy.
Tình cảm sống của nghệ thuật gia là lực lượng vĩ đại thần kỳ, lực lượng ấy có thể khiến nghệ thuật gia miêu tả rộng lớn các cuộc sống của mọi người. Một nhà văn học có thể miêu tả điều mà ông ta chưa từng thể nghiệm hay có thể chưa hề sống qua, thí dụ một tác gia kiệt xuất văn học lịch sử, có thể tả được những cuộc chính biến kinh hồn lạc phách trong cung điện cổ đại; đối với những nhân vật ông khắc hoạch chính xác, tuy rằng ông chưa bao giờ trải qua cuộc sống ấy. Những hiện tượng đó nhìn qua đầy vẻ thần bí, nhưng nếu đi sâu vào tình cảm sống của nghệ thuật gia là hiểu được ngay không có gì là thần bí cả. Trong một thứ tình cảm sống phong phú và sâu rộng của nghệ thuật gia, thì mắt của ông ta tức là mắt của mọi người, sự cảm thụ của ông ấy là có đủ tính chất đau buồn phẩn uất trước mọi tình trạng xã hội. Do đó, ông ta có thể dựa vào sự thể nghiệm và sống từng trải hữu hạn của bản thân mà “suy kĩ cập nhân”; từ đó mà từ tư liệu sinh sống của người khác vẫn nắm được sức cảm thụ sâu xa.
II- Trong nghệ thuật truyền thống nghệ thuật gia vẫn có đươc sự tu dưỡng. Nếu không có được sự tu dưỡng đó thì sự xung động biểu hiện vĩnh viễn không thể nào chuyển hóa thành xung động sáng tác. Xung động sáng tác là một thứ dự cảm ý tượng thẩm mỹ sắp được đưa vào sáng tác. Thứ dự cảm ấy chỉ có nơi nghệ thuật gia xuyên qua nghệ thuật truyền thống. Nghệ thuật gia trường kì tu dưỡng mới thu hoạch được sự hình thành năng lực dự cảm. Nếu chúng ta chỉ căn cứ vào sự khích động của tình cảm mà nghĩ đến việc làm một bài thơ, mà không dựa vào cái gì thì đó chỉ là một thứ không tưởng chủ quan mà thôi. Chỉ có dựa vào mối liên hệ đến thi ca truyền thống  mới có thể dựng nên một thứ kinh nghiệm, thì sự xung động của chúng ta mới có hiệu quả thực tế, là nhắm vào hướng nghệ thuật thực tiển.
Sự tu dưỡng của nghệ thuật gia, nói cho cùng chỉ là sự thừa tập một thứ nghệ thuật truyền thống, thông qua thứ truyền thống ấy mà nhà nghệ thuật đạt được năng lực cơ bản và phương thức của sự trần thuật tổng hợp; ông ta có thể dự tri và đem bộ phận tình cảm rót vào hình ảnh sinh động cụ thể mà sinh ra thị vực nội tại trong tác phẩm.
Chỉ căn cứ vào điểm đó, chúng ta cũng đủ lí do để nhấn mạnh đến sự quan trọng của nghệ thuật truyền thống; nếu không có nghệ thuật truyền thống thì sự hình thành xung động sáng tác chân chính đều không sao có được.

Tiếp theo là Vấn đề linh cảm…

------------------------
* nguồn: tác giả


                     

Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

phê bình hay tuyên truyền thơ? – phan đức



Trong nước mới đây, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều được đánh trống khua chiêng ầm ỹ bởi một số nhân vật có máu mặt trong giới văn thi sĩ quốc nội. Họ đang “hợp đồng tác chiến” đánh bóng tên tuổi của nhà thơ này lên tận chín tầng mây, như một hiện tượng tương tự trường hợp Nguyễn Huy Thiệp trước đây. Có điều khác là nếu nhà văn Nguyễn Huy Thiệp xứng đáng với lời ca tụng bao nhiêu thì nhà thơ Nguyễn Quang Thiều lại nhận được những lời tung hô quá đáng đến mức kệch cỡm bấy nhiêu. Nhà văn trước là xứng đáng vì ông mở đầu cách viết mới mẻ với đề tài “phạm húy” cùng văn phong “sắc cạnh lạnh lùng”chưa hề có trước kia, sau việc “mở trói” nhờ cuộc đổi mới của cố tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Văn Linh. Còn nói kệch cỡm đối với nhà thơ sau là vì cách phê bình thậm xưng đến mức nịnh bợ thơ ông phó chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam của một số người tổ chức và tham gia tọa đàm khoa học “Thơ Việt Nam hiện đại và Nguyễn Quang Thiều” [1]. Đây là cuộc hội thảo với các ngôn từ “đao to búa lớn” mà chính nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo vốn hiếm gây ồn ào cũng phải viết “Tôi không thích cái tên hội thảo đó. Nó to tát quá. Hình như thời nay người ta thích to tát. Khen chê cũng to tát. Muốn gắn cái nho nhỏ với cái to tát. Theo tôi thì chỉ nên trưng cái pano vừa vừa ‘Toạ đàm thơ NQT’ cũng chả sao”. Rồi ông nhắc lại nhận định của ông từ trước nhưng đến nay vẫn còn giá trị là “Thiều làm thơ không có bài dở nhưng cũng không có bài nào thật hay”. Nguyễn Trọng Tạo nói rất đúng. Làm như thơ Việt Nam hiện đại chẳng đáng kể gì nếu không gắn tên nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vào đó hay sao? [2].
Cuộc hội thảo đã làm một số văn thi sĩ phân chia làm hai phe : bênh và chống. Trong số tâng bốc có những khuôn mặt cán bộ thuộc Hội Nhà Văn như chủ tịch Hữu Thỉnh, ủy viên hội đồng lý luận phê bình văn học Chu Văn Sơn và trưởng ban lý luận phê bình Nguyễn Chí Hoan, còn Viện Văn Học là viện trưởng Nguyễn Đăng Điệp v.v... Cũng có nhà phê bình đứng “chân ngoài chân trong” là Đỗ Quyên (Canada). Đúng như một dàn “hợp xướng” hay nói khác đi, có đủ ban bệ chính thống từ trung ương đến địa phương, để tuyên truyền rằng có một nhà thơ lớn của thời đại nhờ đảng Cộng Sản Việt Nam... hóa phép một hạt bụi mới được lấp lánh ánh sáng của đảng! [3].
Trong số những bài đánh giá thơ Nguyễn Quang Thiều thì bài viết của nhà thơ kiêm phê bình gia Inrasara là thuyết phục nhất vì quan điểm duy lý chừng mực của ông. Tiếc là bài nhận định này ông cho đăng trên blog của mình và trang Tiền Vệ, chứ không đọc trong cuộc hội thảo [4]. Theo Inrasara, sở dĩ thơ Nguyễn Quang Thiều nổi bật lên gần đây là vì “hoàn cảnh lịch sử”. Ông viết “Chẳng những đề cao mà là tụng ca, tụng ca thành một cao trào bất bình thường đến gây dị nghị”. Hay một đoạn trích dẫn khác “Dẫu sao, dù chê bôi, tụng ca hay dị nghị, dù đa số ít nhiều vì hệ quả của ‘hoàn cảnh xã hội’. Rất đặc trưng Việt Nam.” Ông đã nói thẳng ra : “Và ít nhà phê bình không ngần ngại nhét vào trong tay anh ‘lá cờ đầu’ cách tân thơ Việt. Chính tại đây xảy ra nỗi nhầm lẫn lớn: nhầm lẫn của lịch sử. Thủ phạm vẫn là ‘hoàn cảnh xã hội’. Nhà thơ Inrasara đã chứng minh nhầm lẫn này tiếp theo sau đó.
Thẳng thừng hơn, nhà thơ Hoàng Hưng trong ý kiến phản hồi bài trên của Inrasara có viết “Thêm nữa, tư duy ‘phò chính thống’ từ chỗ ‘phò quan điểm chính thống’ (của đảng) đã và đang ‘diễn biến’ thành ‘phò các vị có địa vị chính thống’…” [5].
Để bác bỏ những luận điệu có tính dự đoán của Đỗ Quyên khi ông này tự tin suy diễn rằng “Thơ Nguyễn Quang Thiều vì con người, vì quê hương, vì trách nhiệm công dân với làng với nước, vì bổn phận làm người trên trái đất”, nhà phê bình Inrasara lập luận “Nguyễn Quang Thiều không thể không né tránh các vấn đề thời sự nổi cộm, cái khả năng va chạm cơ chế mà anh là một bộ phận không rời”. Ông mạnh mẽ lên án “Tuyệt đại đa số nhà thơ chính thống Việt Nam. đã chạy trốn thời sự nóng bỏng tác động đến toàn xã hội là sự kiện Trường Sa - Hoàng Sa”. Và ông khẳng định “Chỉ khi được phép, họ mới ồ ạt làm thơ yêu nước” [6].
Trong mục đích vạch ra sự thiếu sót cố ý trong những người tâng bốc Nguyễn Quang Thiều, Inrasara nói thẳng là ngay những nhà thơ miền Nam (sau 1975) cũng đi trước Nguyễn Quang Thiều. Điển hình như Nguyễn Quốc Chánh với Đêm mặt trời mọc (1990) hay Trần Tiến Dũng với Khối động (1997) và Hiện (2000). Lý do là thơ Nguyễn Quang Thiều “không hậu hiện đại. Không và không thể” trong khi hai nhà thơ trên đã thử nghiệm dòng thơ hậu hiện đại. Đó là chưa kể sau này còn có nhóm Mở Miệng với Bùi Chát, Lý Đợi. Nhà thơ Inrasara không cả nể, mà viết rằng “Hiện tượng thơ Sài Gòn. Nó hoàn toàn khác với thơ cách tân ở miền Bắc. Khác từ tâm thế, thái độ và sinh hoạt, khác đến giọng điệu lẫn thủ pháp nghệ thuật”. Họ có thái độ phản kháng truyền thống, ôn hòa hay mạnh mẽ [7].
Buồn cười là trong số những người ‘phò’ Nguyễn Quang Thiều có cảnh ‘trống đánh xuôi kèn thổi ngược’ giữa hai tác giả sau. Nguyễn Đăng Điệp cho rằng “Với những bứt phá mạnh mẽ của Nguyễn Quang Thiều, ý thức cách tân về lối viết trở nên thường trực và riết róng” thì trái lại Đỗ Quyên nhận định khó hiểu “tác giả làm thơ trước, cách tân sau” hay ví von dễ dãi theo kiểu xe cộ lưu thông “không cầm đèn chạy trước ô tô thơ”. Có đời nào xây nhà trước nhưng chưa gọi là mới mà sau đó lại “làm mới” thì mới gọi cách tân sao? Có ai xây nhà kỳ quái vậy nhỉ (vì không xây mới từ đầu)? Còn vô lý nữa là khi ví với cách “không cầm đèn chạy trước ô tô thơ”. Như thế, cả hai cách so sánh đều là chưa cách tân, chứ cách tân cái kiểu gì mà lại đi sau, không chịu đi trước? Thật ra, đó chỉ là một câu lủng củng gây khó hiểu của Đỗ Quyên!
Để đáp trả những tiếng phèng la ỏm tỏi trên, nhà thơ kiêm phê bình gia (ưa nói thẳng) Trần Mạnh Hảo cũng đã phải vận dụng hết “mười thành công lực” lâu nay của ông để phản bác lại, theo cách “tiếng hát át tiếng bom” của miền Bắc thời chiến tranh vậy (?). Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã phản pháo lại bài phê bình rườm rà của Đỗ Quyên “Thi pháp Nguyễn Quang Thiều” bằng bài viết “Khi ông Đỗ Quyên gọi hồn thơ ‘Tân con cóc’ của Nguyễn Quang Thiều”. Chỉ qua nhan đề, người ta cũng biết ông Hảo muốn chê thơ ông Thiều là dở! Trong bài này, tôi chỉ đồng ý với nhận định hợp lý của ông Hảo đối với thơ ông Thiều, chứ không đồng ý cho lắm về sự ác cảm của ông Hảo đến mức dị ứng đối với sự đột phá trong nghệ thuật sáng tạo thi ca. Thật ra, sự ‘tả xung hữu đột’ trong phê bình của họ Trần là đáng hoan nghênh vì ông không nể nang ai cả nhưng đáng tiếc là ông lại đi quá đà! Xét kỹ, thơ ông Thiều cũng từa tựa như thơ dịch thì đúng một phần nào vì sự lạm dụng từ ngữ trùng lặp lạc điệu, không cần thiết, đọc lên có vẻ ngô nghê và nghe như tác giả không biết làm sinh động cú pháp! Điển hình như những câu thơ sau đây:
Ngáp ngủ đã đêm qua
chưởi tục đã đêm qua
gạ gẫm làm tình đã đêm qua
âm hộ đã đêm qua
dương vật đã đêm qua!
(Lò mổ)
Đọc thêm một đoạn trùng lặp nhạt nhẽo đến ngớ ngẩn :
con đường
con đường
con đường
dắt ta về hồ nước cũ
...
con đường
con đường
con đường
ra đi từ hồ nước cũ.
(Lễ tạ)
Cách dùng điệp ngữ này cũng chẳng có gì mới lạ mà từng được nhà văn nữ Túy Hồng ở miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) viết qua cuốn Tôi nhìn tôi trên vách và cũng được nhà thơ Bùi Chát tận dụng sau này để mô tả đến cùng sự đơn điệu thường xuyên và bất lực không thể nào thoát ra được đời sống chính trị tù hãm ở Việt Nam lâu nay.
Trở lại cuộc vinh danh thơ Nguyễn Quang Thiều, Đỗ Quyên trong tiểu đề “Có hay không có chủ nghĩa thơ hiện đại Việt Nam” (“Thi pháp Nguyễn Quang Thiều”) mà Trần Thị Phương Hoa chê là “Bài viết của Đỗ Quyên cung cấp một cái nhìn lộn xộn về chủ nghĩa hiện đại” [8].
Sở dĩ tác giả trên nói lộn xộn là vì Đỗ Quyên mô tả thơ Thiều như một mớ hổ lốn pha tạp, gồm có bài hiện sinh, bài thì siêu thực, bài tượng trưng v.v… chỉ ở mức hiện đại, chứ chưa phải là hậu hiện đại trong ý nghĩa của dòng thơ này.
Mạnh miệng nhất là bài phê bình thơ của Đặng Thân mà Trần Mạnh Hảo đã phải hỏi thẳng “Đặng Thân : Bình thơ hay tấu hài?” nhằm phê phán bài tham luận “Người buông lưới dệt ánh sáng từ hố thẳm” của tác giả Đặng Thân. Thôi thì đủ loại ngôn từ khoa đại được Đặng Thân gom hết vào mà nhiệt liệt tán tụng thơ Thiều. Thế nhưng ai đọc kỹ thì thấy Đặng Thân bình... loạn theo kiểu ‘khen ồn ào, chê kín đáo’ thơ họ Nguyễn “Nếu có ai đó hỏi hãy nêu hai nhà thơ Việt cần đọc nhất trong một trăm năm qua, chắc rằng tôi, sau vài hồi cân nhắc cỡ trăm cái tên, sẽ bảo nên đọc Hàn Mặc Tử “vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất” và Nguyễn Quang Thiều. Cả hai đều tôn thờ đường lối có định hướng “loạn thần kinh” vì kẻ trước thì đẻ ra trường thơ loạn, còn kẻ sau thì làm... loạn trường thơ” [9].
Tiếp theo sau là Nguyễn Chí Hoan với “Tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ” - thơ Nguyễn Quang Thiều “không để hiểu mà để tưởng tượng” (Báo Văn Nghệ tết Canh Dần số 6+7+8 -2010, trang 54). Cùng với Chu Văn Sơn qua “Nguyễn Quang Thiều và khuynh hướng sử thi tôn giáo” [10]. Cũng chỉ là những tụng ca ngoa ngữ và đại ngôn!
Ông chủ tịch Hữu Thỉnh còn chi ly hơn mà phân chia ra thơ cần giải thích và thơ dễ hiểu không cần giải thích của thơ họ Nguyễn. Ông ca ngợi thơ phó chủ tịch “Nguyễn Quang Thiều đã có những câu thơ mở ra những vô tận của liên tưởng” hoặc “Nguyễn Quang Thiều là ‘phù thuỷ’ về liên tưởng”. Và những lời công kênh lên chất ngất “Điều cuối cùng là anh đã tạo ra được sự ám ảnh: đó mới là cao diệu”. Còn nữa: “tạo ra từ trường và vực xoáy”. Vẫn thản nhiên mở hết công suất tán tụng là “Nguyễn Quang Thiều tạo ra môi trường thẩm mỹ mới, khước từ mọi sự véo von nhễ nhại, du dương tội nghiệp. Nguyễn Quang Thiều huy động tối đa những ngẫu nhiên. Nguyễn Quang Thiều là người cọng hưởng được cả thông tin, cảm xúc, tranh luận, bình luận” [11]. Bài phát biểu của Hữu Thỉnh được Nguyễn Đăng Điệp đồng thanh phụ hoạ “Những nhận xét của nhà thơ Hữu Thỉnh là lời tổng kết hoàn hảo nhất cho cuộc toạ đàm khoa học Thơ Việt Nam hiện đại và Nguyễn Quang Thiều” [12].
Thấy những hành động tung hứng lên tầng mây xanh Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ vai vế Vũ Quần Phương không chịu nổi nên phải phê phán qua “Hội chứng yêu thơ cuồng nhiệt và phong trào bốc thơm lẫn nhau”[13]. Cũng có người như nhà thơ Nguyễn Đăng Trình hoặc Trần Đình Thu bày tỏ sự bất đồng ý về kịch bản... phong thần cho ông Thiều mà cơ quan tổ chức hội thảo là Viện Văn Học với ông chủ tịch Hữu Thỉnh đề cao phó chủ tịch Nguyễn Quang Thiều, hai ông quan nắm quyền cao nhất nhì trong Hội Nhà Văn Việt Nam.
Nói thẳng ra, kịch bản này bốc mùi nặng quá. Nói ‘bốc thơm’ như Vũ Quần Phương cũng chỉ là lời bình nhẹ nhàng có tính vị nể. Cuộc toạ đàm chẳng khác gì một chiến dịch tuyên truyền với đủ nhân lực và thực hiện theo bài bản lễ “tấn phong thi hào” cho một nhà thơ là chính Nguyễn Quang Thiều, người đã trịnh trọng giữ vai trò nổ đại pháo khai mào rằng Việt Nam là một “cường quốc” về thơ và những người, bất kể thực hay giả mê thơ ông ta, cũng hăm hở nhảy ùa vào để chứng minh một điều duy nhất rằng thơ Nguyễn Quang Thiều là tột đỉnh thi ca Việt Nam. Hiện đại! Phải chăng Hội Nhà Văn đang mặc “áo thụng vái nhau” trong thi phú?
Tuyên truyền là gì? Là sự phóng đại, có ít xít ra nhiều, ngay cả biến không thành có, nói láo thay nói thật, đồ dỏm thành đồ giá trị một cách rập ràng đồng nhất bằng mọi phương tiện và thủ đoạn mình có sẵn! Tại sao? Xin thử lý giải là nhằm mục đích “ru ngủ” giới văn nghệ sĩ và định hướng dư luận cho họ quên hết hiện thực tình hình cực kỳ khó khăn về mọi mặt của người dân và sự hung hăng lấn chiếm trắng trợn biển đảo nước ta của Trung Quốc.

PĐ.
(5-8-2012)

--------------
PS: Nếu muốn biết quan hệ giữa Hội Nhà Văn Việt Nam và Trung Quốc hai năm trước đây ra sao, xin đọc “Em không phải là nhà văn” của Trang Hạ (Blog Trang Hạ ngày 29-7-2010) [14].

____________
Chú thích:
[1] Toạ đàm khoa học “Thơ Việt Nam hiện đại và Nguyễn Quang Thiều” trên tổ chức ở Viện Văn Học (Hà Nội) ngày 28-6-2012. 
[2] Lời giới thiệu bài “Nguyễn Quang Thiều: Trở về mái nhà xưa” (blog Nguyễn Trọng Tạo). 
[3] Lời phát biểu của Nguyễn Đình Thi lần ra mắt ban chấp hành mới Hội Nhà Văn tháng 3/1983: “...Chúng ta là những nhà văn nhưng là những hạt bụi lấp lánh ánh sáng của Đảng”. 
[5] Ý kiến dưới bài dẫn trên (blog Inrasara). 
[6] Bài dẫn trên. 
[7] Bài dẫn trên. 
[9] Đặng Thân, “Người buông lưới dệt ánh sáng từ hố thẳm” (hố thẳm là ‘bản quyền’ Phạm Công Thiện). 
[10] Trần Mạnh Hảo, “Về một lối phê bình tùy tiện của PGS-TS Chu Văn Sơn”. Đa số những bài phê bình của Trần Mạnh Hảo đăng trên nhiều diễn đàn như blog Nguyễn Trọng Tạo hay Đàn Chim Việt v.v. 
[12]Bài dẫn trên (blog Lê Thiếu Nhơn). 
[14] Trang Hạ thuật lại lời của Hữu Thỉnh: “Bác bảo nhỏ, nhưng khốn nỗi kinh phí của nhà nước chỉ cấp cho các bác để o bế quan hệ với Trung Quốc chứ không phải tiền tỷ hàng năm để làm văn làm chương với quốc tế nào khác. Cái này nó liên hệ mật thiết tới... tiền.” (blog Trang Hạ: “Em không phải là nhà văn” Ngày 29-7-2010). 


-------------------
Bài liên quan:
17.07.2012
[CHUYỆN PHÊ BÌNH]... Vừa qua tôi nhận được phản hồi cá nhân từ một số bạn bè, rằng bài viết của tác giả Đặng Thân“không có giá trị gì ngoài việc tung hứng đầy cảm tính hồ đồ về thơ Nguyễn Quang Thiều”, chẳng hạn như Đặng Thân cho rằng “2 thi sĩ VN sáng giá nhất tính từ 100 năm trở lại đây là Hàn Mặc Tử và Nguyễn Quang Thiều”, vậy mà tôi đã “góp ý” là bài viết của Đặng Thân “rất hay”, bởi vậy hôm nay tôi thấy nên nói thêm đôi điều như sau... (...).

12.07.2012
Hoan nghênh  -  xyz
[CHUYỆN PHÊ BÌNH]... Hoan nghênh tác giả Đặng Thân đã chỉnh lại chi tiết, cũng như đã thêm vào một câu rất hay... (...).

11.07.2012
[CHUYỆN PHÊ BÌNH]... Tôi xin có lời đính chính cho đoạn cuối cùng của bài “Người buông lưới dệt ánh sáng từ hố thẳm” [...]. Mong độc giả thứ lỗi. Thực ra, trong khi trí nhớ ngày càng bậy bạ, thì cũng dễ mà lẫn lộn, như là giữa ông Phê Rồ rồi là ông Phao Lồ... (...).

08.07.2012
[CHUYỆN PHÊ BÌNH]... Đọc “Người buông lưới dệt ánh sáng từ hố thẳm” của Đặng Thân, thấy rất là hay, nhưng mà Thân ơi là Thân, mấy cái câu cuối... (...).

06.07.2012
[CHUYỆN PHÊ BÌNH]... Đó là gì nếu không gọi là phê bình phán rơm, một kiểu nấp bóng để đánh một đòn mà được lợi cả bên này lẫn bên kia?! Tôi cũng xin nhắc thêm, lối viết phê bình cũng như phản biện của ông Trần Mạnh Hảo thường là không đi thẳng vào trọng tâm vấn đề, đi lòng vòng, cà kê dê ngỗng... (...).

05.07.2012
[CHUYỆN PHÊ BÌNH]... Nguyễn Quang Thiều cứ mắc kẹt ở bên kia bờ hiện đại. Mắc kẹt và rớt lại phía sau... Cho nên không thể đòi hỏi Nguyễn Quang Thiều hậu hiện đại, như vài người viết phê bình đã cố tình đẩy anh về phía xa xôi ấy. Hướng tâm, Nguyễn Quang Thiều không thể không né tránh các vấn đề thời sự cộm, cái cộm khả năng va chạm cơ chế mà anh là một bộ phận khôn rời. Một nhà thơ còn escape from freedom thì vời xa cả vực thẳm với hậu hiện đại... (...).

[CHUYỆN PHÊ BÌNH]... Trong mắt tôi, thơ Nguyễn Quang Thiều như một tấm lưới vô biên, không phải được dệt bằng sợi gai, sợi cước PA hay nylon sợi xe như người ta thường gặp; nó được dệt bằng ánh sáng, thứ ánh sáng của “hố thẳm”... (...).

23.06.2012
[CHUYỆN PHÊ BÌNH]... Ai đẻ ra cái thời đại nhảm nhí này? Đấy chính là cái nền giáo dục XHCN ở trong nước. Nghĩ mà thương cái xứ mình. Người lao động thì cực nhọc mà lại quá nhiều oan ức, còn đám nhà văn thì như vậy. Biết trông cậy vào ai?... (...).

22.06.2012
[CHUYỆN PHÊ BÌNH]... Trong bài viết “Sự dễ dãi không làm nên giá trị thi ca” của tác giả Trần Mạnh Hảo, đăng tại trannhuong.com, có một số ý sau đây làm tôi hết sức bất ngờ cho sự hiểu và viết của ông Hảo. Ở sự hiểu của ông, chỉ với riêng bài viết của tôi cũng có lắm vấn đề để bàn, và sự viết của ông thì miễn bàn, vì nó xuất phát từ sự hiểu... (...).

21.06.2012
[VĂN HOÁ ĐỐI THOẠI]... Chúng tôi công khai phản đối lối phát biểu mang tính xúc phạm vô cớ của ông Trần Mạnh Hảo khi ông cho rằng chúng tôi đã “dùng Liêu Thái để lên án” ông... (...).

19.06.2012
[CHUYỆN PHÊ BÌNH]... Nếu ông không phân tích, chứng minh một cách cụ thể, có khoa học những gì ông nêu ra thì e rằng lâu nay ông đã bịp độc giả, lừa mị họ bằng thứ ngôn ngữ rỗng tuếch, đao to búa lớn… Ông đã rơi vào loại phê bình võ đoán, phán rơm... (...).

---------------------
* nguồn: tienve.org



Thứ Hai, 6 tháng 8, 2012

nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – nạn nhân của một nền văn học tâng bốc * mặc lâm




Chương trình Văn Học Nghệ Thuật hôm nay Mặc Lâm trình bày sự kiện một nhà thơ tài năng nhưng khi thơ của ông được đem ra tâng bốc lại trở thành một thảm họa cho chính nhà thơ và sự kiện này nói lên khá nhiều sinh hoạt hiện nay của Hội Nhà văn Việt Nam.

Theo tin của báo Thanh Niên, ngày 28 tháng 6 vừa qua Viện Văn học Việt Nam đã tổ chức một buổi hội thảo với chủ đề “Tọa đàm thơ hiện đại và Nguyễn Quang Thiều”. Cuộc hội thảo này có gần 30 bài tham luận được đóng góp với các bài viết về “thơ hiện đại Việt Nam” trong đó khá nhiều bài bàn về thơ Nguyễn Quang Thiều.

lộ liễu, sáo rỗng
Một buổi hội thảo văn học như vậy thật cần thiết cho sinh hoạt văn chương. Nếu tổ chức nghiêm túc sẽ tạo cơ hội cho các nhà phê bình lý luận văn học và người sáng tác có cơ hội gặp gỡ và trao đổi kinh nghiệm, quan điểm cũng như khuynh hướng sáng tác đương đại để cỗ xe văn học không bị lạc lối. Tuy nhiên vấn đề đáng quan ngại ở đây là người viết tham luận tỏ ra non tay trong việc khen thơ của Nguyễn Quang Thiều mặc dù ông là nhà thơ từng có những bài thơ hay trong sự ngiệp sáng tác.
Ông Hữu Thỉnh, trong tư cách Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã có những câu khen tụng bị nhiều người bỉ thử. Ông viết: “(Nguyễn Quang Thiều) tạo ra trường thẩm mỹ mới, khước từ mọi sự véo von nhễ nhại, du dương tội nghiệp, Nguyễn Quang Thiều huy động tối đa những ngẫu nhiên. Nguyễn Quang Thiều là người cộng hưởng được cả thông tin, cảm xúc, tranh luận, bình luận… Chính vì vậy thơ Nguyễn Quang Thiều phồn thực, đa chiều, "xôm tụ"...
Còn nhà phê bình Văn học Nguyễn Đăng Điệp ca tụng Nguyễn Quang Thiều lộ liễu và sáo rỗng đến mức nhà báo Phạm Viết Đào cho rằng “Nguyễn Đăng Điệp mang một lô xếch xông các thứ "mũ, hia, quần áo, đồ trang sức" sang trọng... từ đâu về chất chồng khoác vào, trang sức cho thơ của Thiều, chứ không phải tự Thơ của Thiều toát lên điều Nguyễn Đăng Điệp đánh giá”.

"Nguyễn Quang Thiều tạo ra trường thẩm mỹ mới, khước từ mọi sự véo von nhễ nhại, du dương tội nghiệp, Nguyễn Quang Thiều huy động tối đa những ngẫu nhiên… Chính vì vậy thơ Nguyễn Quang Thiều phồn thực, đa chiều, "xôm tụ"...". CT Hội NVVN Hữu Thỉnh


Một bài viết của Nguyễn Quyến trong đó có đoạn mạnh mẽ tuyên xưng rằng Nguyễn Quang Thiều đã đi sau Nguyễn Du và thành công trong việc tác động mỹ cảm của người đọc Việt Nam: “Nhưng tôi khẳng định rằng sự đóng góp lớn lao nhất của tập thơ Sự mất ngủ của lửa không chỉ đối với thơ ca hiện đại nói riêng mà nó còn tác động nhiều đến mỹ cảm của người Việt hiện đại. Thường thường, sự cảm nhận nghệ thuật theo thói quen cũ vẫn còn biểu hiện rất rõ ở đa số chúng ta”.
Bài này đăng trên tờ Nghệ thuật mới vốn là phụ trương của báo Người Hà Nội do Nguyễn Quang Thiều và tác giả phụ trách, đã đẩy vấn đề tới chỗ không thể không nói: Người ta ca tụng Nguyễn Quang Thiều vì ông là Phó chủ tịch đương nhiệm của Hội nhà văn Việt Nam.
Tất cả những lời khen vừa nêu chỉ là một phần rất nhỏ trong toàn bộ các bài viết dài hàng chục ngàn chữ với mục đích đánh bóng tên tuổi của một nhà thơ đang làm việc trong ban chấp hành Hội Nhà văn. Tuy nhiên nhà thơ nạn nhân Nguyễn Quang Thiều không vì thế mà được trọng vọng hơn nếu không muốn nói là ngược lại.
Trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật lời khen không phù hợp hay sáo rỗng là cách giết chết tài năng. Trong trường hợp này không những người được khen mang tiếng mà người khen cũng không thoát được búa rìu dư luận khi họ không đủ khả năng để viết một lời khen cho đúng nghĩa với nội hàm thi ca, vốn đòi hỏi kiến thức uyên bác về các trào lưu văn học thế giới để có những nhận xét tế vi mà người viết văn không thể làm được.
Vì vậy thế giới mới xuất hiện giới phê bình văn học.

vô bổ, thất vọng
Trong tinh thần tìm hiểu thêm nội dung sự việc, Mặc Lâm mời nhà phê bình và nghiên cứu văn học InraSara trao đổi một vài vấn đề có liên quan đến nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cũng như biến cố tai hại này đối với nhà thơ.
Mặc Lâm: Thưa anh, trong các tâng bốc quá mức đối với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều thì nhà thơ Hoàng Hưng cho rằng “Nguyễn Quang Thiều, khi lúc đầu mới cách tân thơ cũng nhiều người chê bôi, nhưng khi anh ấy có địa vị một chút trong Hội Nhà văn thì lại được đề cao”. Phải chăng Nguyễn Quang Thiều chỉ là một nạn nhân của thói tâng bốc nịnh bợ xuất hiện ngày một nhiều trong hội Nhà văn Việt Nam?
InraSara: Đó là nhận định chưa công bằng với Nguyễn Quang Thiều. Từ Sự mất ngủ của lửa đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993, sự “cách tân” thơ Nguyễn Quang Thiều đã gây nên dư luận hai chiều, cả khen lẫn chê, chứ không chỉ “nhiều người chê bôi”. Như vậy, nhà thơ này không phải “được đề cao” chỉ khi “có địa vị một chút trong Hội Nhà văn”, mà là trước đó, ở mức độ vừa phải. Chỉ khi rục rịch Tọa đàm khoa học “Thơ Việt Nam hiện đại và Nguyễn Quang Thiều” từ đầu tháng 6-2012, sự “đề cao” mới rộ lên. Chẳng những đề cao mà là tụng ca, tụng ca thành một cao trào bất bình thường. Ngay tại diễn đàn được coi là hàn lâm nhất là Viện Văn học.
Không ít người đã dị nghị. Từ dị nghị đến công phá, công phá cả khía cạnh ngoài văn học. Vô hình chung, Nguyễn Quang Thiều trở thành nạn nhân lúc nào không hay. Tôi không biết anh Thiều có nhận ra như vậy không.
Mặc Lâm: Hai mươi năm trước thì nhiều người đã cho rằng thơ của Nguyễn Quang Thiều là một “hiện tượng”. Có chậm quá hay không khi đưa ra nhận định này trong không gian thơ u ám đầy bất trắc hiện nay?
InraSara: Quá chậm nữa là đằng khác. Chuyện xảy ra từ 20 năm trước rồi. Từ Sự mất ngủ của lửa in năm 1992 đến Bài ca những con chim đêm xuất bản năm 1999, Nguyễn Quang Thiều đã hình thành một giọng thơ riêng, không thể nói là không độc đáo. Thế nhưng một hiện tượng đúng nghĩa khi nó mới xuất hiện, và nhà phê bình phát hiện và gọi tên nó. Đằng này khi kêu một nhà thơ đã qua 30 năm chữ nghĩa là một hiện tượng, dễ bị cho là nói theo. Nhất là trong không gian thơ đầy u ám, bất trắc như hiện nay.
Mặc Lâm: Nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Điệp cho rằng “cách tân” của Nguyễn Quang Thiều có hơi hướm của thơ miền Nam nhiều chục năm trước? Nhận xét này theo anh có điểm nào chưa thỏa đáng?
InraSara: Chẳng những hơi hướm thôi, mà còn đi sau rất lâu. Thế nào đi nữa, muốn đánh giá nghiêm túc một sự kiện hay tác giả văn học, cần phải có cái nhìn toàn cảnh. Gần 40 năm sau khi đất nước thống nhất, văn học hiện đại Việt Nam đã không nhận được cái nhìn toàn cảnh kia. Nên mọi đánh giá đều thiếu khuyết và bất cập.
Trước hết, có thể nói hầu hết tác giả thơ miền Nam còn chưa được xuất hiện công khai trong nước, nói chi việc ghi nhận công bằng đóng góp của thế hệ thơ đầy tài năng này.
Thì đã vậy, đành vậy. Thế thơ của Nhóm Nhân văn - Giai phẩm đứng ở đâu? Người ta đã đánh giá họ đúng mức chưa? Nếu nói cách tân, nhóm thơ này đã cách tân từ những năm 60 rồi. Người ta không ghi nhận thành tựu đó. Mãi 30 năm sau, khi tác phẩm họ được xuất bản công khai, người ta vẫn cứ muốn đẩy họ về phía tối.
Không nói đâu xa, đi trước Nguyễn Quang Thiều một bước, vài nhà thơ “thời chống Mỹ” đã làm cuộc phá rào ngoạn mục. Nguyễn Duy phản biện xã hội qua hai tập thơ sáng giá: Nhìn từ xa… Tổ quốc và Kim mộc thủy hỏa thổ. Hay Thanh Thảo với Khối vuông Rubic và Từ một đến một trăm thể hiện tư duy nghệ thuật khác lạ. Hoặc người cùng thế hệ như Dương Kiều Minh ở tập Củi lửa với nhiều “cách tân” khá thành công ba năm trước đó.
Cần có cái nhìn toàn cảnh trong tiến trình phát triển thơ Việt: trước và sau 75, Bắc và Nam, trong nước và hải ngoại, chính thống và phi chính thống… mới mong có được sự đánh giá công bằng. Còn chưa thì, “đổ” hết tính mở đường cách tân thơ Việt cho Nguyễn Quang Thiều là một bất cập tai hại.

"Ngoảnh lại một năm văn học, hay hội thảo đánh giá một sự kiện văn học, một tác giả là cần thiết. Nhưng với không khí oi ả tình hình thời sự hôm nay, nó như thể một lẩn tránh, hơn nữa - một lạc đề. Thật vô bổ. Vô bổ, nên đáng thất vọng". InraSara


Mặc Lâm: Nếu nói thơ Nguyễn Quang Thiều thiếu chất trẻ và bứt phá cái hợp lý để tìm tính phi lý trong cấu trúc thơ của các nhà thơ Bùi Chát, Lý Đợi, Phan Bá Thọ anh có hoàn toàn đồng ý?
InraSara: Tôi xin nói ngay là thơ hậu hiện đại của Bùi Chát, Lý Đợi, Phan Bá Thọ không có gì là phi lí cả. Nó rất thực, cái thực rất đời thường. Nó không từ nan bất kì thủ pháp nào, cả cổ điển lẫn hiện đại. Tinh thần phi tâm hóa ở mọi bộ phận của loại thơ này đã ít nhiều gây khó chịu với người tiếp nhận. Bởi nó xa lạ với mọi loại thơ trước đó. Còn cấu trúc thơ của Nguyễn Quang Thiều thì khác. Nó rơi rớt từ tượng trưng, ít nhiều lấn sân siêu thực và nhất là hiện đại. Nó tiếp nhận rất nhiều từ những người đi trước. Không vấn đề gì cả.
Sau đó anh đã cố gắng vượt thoát nhưng đã không thể.
Mặc Lâm: Sân thơ hậu hiện đại có chỗ nào cho Nguyễn Quang Thiều bày hàng của mình hay không và nếu không thì tại sao?
InraSara: Tôi nói Nguyễn Quang Thiều không thể. Và anh đã không thể. Dù anh rất “cố gắng” vận dụng vài thủ pháp hậu hiện đại ở Cây ánh sáng và Lò mổ. Nguyễn Quang Thiều cứ mắc kẹt ở bên kia bờ hiện đại. Mắc kẹt và rớt lại phía sau. Anh vẫn còn đầy nghiêm cẩn, nghiêm cẩn đến nghiêm trọng. Tâm tính với tâm thức đó cản ngăn nhà thơ biết cười vào mấy nỗi nghiêm trang, nghiêm nghị, do đó anh không thể đưa thơ tiếp cận chất humor - humor hậu hiện đại. Như Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Hoàng Nam, Đỗ Kh. trước đó hay Phan Bá Thọ, Bùi Chát, Lê Vĩnh Tài sau này.
Đó là chưa nói Nguyễn Quang Thiều xu hướng hướng tâm, từ thái độ thơ cho đến sinh hoạt nghệ thuật. Cho nên không thể đòi hỏi Nguyễn Quang Thiều hậu hiện đại, như vài người viết phê bình đã cố tình đẩy anh về phía xa xôi ấy. Hướng tâm, Nguyễn Quang Thiều không thể không né tránh các vấn đề thời sự cộm, cái cộm khả năng va chạm cơ chế mà anh là một bộ phận khôn rời.
Một nhà thơ còn escape from freedom thì vời xa cả vực thẳm với hậu hiện đại.
Mặc Lâm: Hiện tượng tranh cãi này tuy bề mặt khá văn học nhưng hình như có cái gì đó có vẻ làm dáng và cố đánh bóng một chủ đề đã cũ. Trong không khí oi ả của tình hình thời sự hôm nay điều này có làm cho người đọc thơ cảm thấy thất vọng hay không?
InraSara: Ở đây hoàn toàn thiếu không khí tranh luận văn học lành mạnh. Bên (chính thống) thì tụng ca, bên kia thì tìm cách vùi dập. Đây là căn bệnh khó chữa trị của phê bình Việt Nam mấy mươi năm qua. Trong tiểu luận “Điểm danh 10 căn bệnh phê bình văn học Việt Nam hôm nay”, tôi đã một lần nêu chúng ra và phân tích. Nhưng đến nay căn bệnh vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm. Nó biến thành hội chứng mãn tính khó chữa trị.
Đó là điều rất đáng thất vọng.
Người ta trốn tránh thời sự nóng bỏng của xã hội để làm một điều gì đó gần như là vô bổ. Nói thế không phải là đừng làm gì cả với sự kiện văn chương đương đại. Ngoảnh lại một năm văn học, hay hội thảo đánh giá một sự kiện văn học, một tác giả là cần thiết. Nhưng với không khí oi ả tình hình thời sự hôm nay, nó như thể một lẩn tránh, hơn nữa - một lạc đề. Thật vô bổ. Vô bổ, nên đáng thất vọng.
Mặc Lâm: Xin cám ơn anh

----------------------------
ML. biên tập viên RFA


Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2012

bản đồ cổ phương Tây khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam


Những tấm bản đồ cổ của phương Tây góp phần minh chứng từ hơn 5 thế kỷ trước, Việt Nam đã xác lập chủ quyền quốc gia trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613 (Ảnh: TS. Sơn cung cấp).

Khẳng định chủ quyền Việt Nam

TS Trần Đức Anh Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội TP Đà Nẵng vừa hoàn thành đề tài Font tư liệu về chủ quyền Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa (TP Đà Nẵng).

TS. Sơn cho hay: Không chỉ các bản đồ cổ Việt Nam, Trung Quốc mà rất nhiều bản đồ cổ của phương Tây đều khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.

Một trong những thành công lớn của nhóm nghiên cứu là sưu tầm được 56 tấm bản đồ phương Tây của font tư liệu này.

Các bản đồ này được vẽ rất sớm, như: Bản đồ do Livro da Marinharia FM Pinnto vẽ năm 1560, bản đồ do Gerard Mercator (1512 - 1594) vẽ có niên đại vào nửa sau thế kỷ XVI... cho đến những bản đồ được vẽ vào cuối thế kỷ XIX như: Bản đồ do Stielers Handatla vẽ năm 1891...

Tất cả đều thể hiện bằng hình vẽ hoặc bằng chữ viết vị trí của quần đảo Hoàng Sa (bao gồm cả quần đảo Trường Sa) trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới các tên gọi như Cauchi, Cochi, Cochinchina, Cochinchine... (tùy theo ngôn ngữ của từng nước phương Tây).

Trên một số bản đồ, địa danh Hoàng Sa còn được thể hiện hoặc ghi chú rất đặc biệt. Chẳng hạn, bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613 thể hiện quần đảo Frael (Hoàng Sa), bao gồm tất cả các đảo của Việt Nam từ nam vịnh Bắc Bộ cho đến hết vùng biển phía nam của Việt Nam, trừ Pulo Condor (Côn Đảo) và Pulo Cici (đảo Phú Quốc) được vẽ riêng.

Trong bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1645, quần đảo Frael (Hoàng Sa) được vẽ nối liền với các đảo: Pulo Secca de Mare (Cù Lao Thu, tức đảo Phú Quý), Pulo Cambir (Cù Lao Xanh), Pullo Canton (Cù Lao Ré, tức đảo Lý Sơn), thành một chuỗi đảo liên hoàn thuộc lãnh thổ Cochinchina (Đàng Trong)...

Đặc biệt, tấm bản đồ mang tên An Nam đại quốc họa đồ, viết bằng 3 thứ ngôn ngữ: Hán, Quốc ngữ và Latin, do Giám mục Jean Louis Taberd vẽ năm 1838, có ghi hàng chữ Paracel seu Cát Vàng (nghĩa là Paracel hoặc là Cát Vàng) khẳng định chủ quyền Việt Nam.

Cũng chính Giám mục Taberd trong bài viết in trên tạp chí The Journal of the Asiatic Society of Bengal vào năm 1837 cũng khẳng định: Paracels, hay Pracel, tức là Hoàng Sa - Cồn Vàng, thuộc về Cochinchina (Giao Chỉ gần Chi na, chỉ tên nước ta), TS. Sơn phân tích.

Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, chuyên gia hàng đầu về bản đồ cổ Việt Nam, hiện sưu tập được 30 bản đồ cổ của phương Tây, có niên đại từ năm 1489 đến năm 1697, có thể hiện hình vẽ và địa danh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Đặc biệt từ tấm bản đồ thứ 4 từ năm 1507 đều có ghi vẽ đất nước ta với biển Đông và quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa.

Tùy theo cách phát âm của mỗi tác giả vẽ bản đồ mà ghi tên nước ta. Có bản đồ ghi Cauchi tức Giao Chỉ, hoặc các dạng tự khác như Cochi, Cachi, Cachu, Cochin đều biểu hiện nguyên âm Giao Chỉ.

Theo TS. Sơn, 56 bản đồ cổ phương Tây này được sưu tầm có niên đại trải dài hơn 3 thế kỷ.

Điều này chứng tỏ từ thế kỷ XVI, nhiều người phương Tây đã biết đến vùng biển đảo Hoàng Sa và ghi nhận quần đảo này là một phần lãnh thổ của Việt Nam (mà bấy giờ họ gọi là Cochinchine, Cochinchina, Annam…).

“Chủ quyền này đã được các nhà bản đồ học, các nhà hàng hải, nhà phát kiến địa lý... phương Tây thừa nhận và ghi dấu lên những tấm bản đồ địa lý và bản đồ hàng hải của họ. Vì thế, những tấm bản đồ này là những tư liệu quý, góp phần khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa), mà hiện nay đang có một số quốc gia trong khu vực tranh chấp chủ quyền”, ông Sơn nói.

Trung Quốc chưa bao giờ có Hoàng Sa, Trường Sa


 An Nam đại quốc họa đồ do Giám mục Taberd vẽ năm 1838.

Theo TS. Sơn, nhiều tấm bản đồ cổ phương Tây đang được lưu giữ tại các thư viện công và bộ sưu tập tư nhân ở châu Âu và châu Mỹ. Trong đó phần lớn bản đồ mà nhóm nghiên cứu đề tài sưu tầm đều là bản đồ scan trực tiếp từ bản đồ gốc được đồng nghiệp là ông Trần Thắng, Chủ tịch Viện Văn hóa giáo dục Việt Nam (IVCE) tại Mỹ, đến các thư viện tại Mỹ để tìm kiếm, xin phép scan...

Qua ông Thắng, TS. Sơn vừa có thêm nhiều tấm bản đồ cổ của phương Tây xuất bản trước và sau khi chính quyền Trung Quốc có những tuyên bố bất hợp pháp về chủ quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào năm 1909.

Trong số này có bản đồ China do Adam và Charles Black vẽ cho bộ sách The Encyclopaedia Britannica, do Nxb. Edinburgh ấn hành năm 1876, bản đồ China, ấn hành năm 1883, bản đồ China and Japan, ấn hành năm 1896; bản đồ Siam and the Malay Archipelago do The Times Atlas (London, Anh) xuất bản năm 1896, bản đồ Route map showing from St. Petersburg to Guft of Tongking, ấn hành năm 1900...

“Điểm giống nhau giữa các bản đồ này là phần lãnh thổ Trung Quốc được tô khác màu hoặc được giới hạn bằng những đường kẻ đậm nét để phân biệt với lãnh thổ các nước láng giềng của Trung Quốc, luôn chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam. Khẳng định Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa”, TS. Sơn nhấn mạnh.

Theo Nguyễn Huy
Tiền phong

  

Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

"Chính nhà Thanh thừa nhận lãnh thổ Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam"


“Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do Trung Quốc xuất bản hơn 100 năm nay rất có ý nghĩa vì đó là sự thừa nhận chủ quyền quản lý của nhà Thanh chỉ đến đảo Hải Nam, ít nhất cho đến đầu thế kỷ 20”, nhà sử học Dương Trung Quốc đánh giá.
Nhà sử học Dương Trung Quốc có cuộc trao đổi tại buổi lễ tiếp nhận tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do tiến sỹ Mai Hồng hiến tặng Bảo tàng Lịch sử quốc gia sáng nay, 25/7.
"Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” được lập dưới thời nhà Thanh, xuất bản cách đây hơn 100 năm thừa nhận chủ quyền quản lý của họ chỉ đến đảo Hải Nam, không hề có Hoàng Sa, Trường Sa. Đây là một căn cứ khẳng định thêm chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa trong bối cảnh tranh chấp trên biển Đông hiện nay?
 Hoàng Sa và Trường Sa - chân lý lịch sử đã khẳng định chủ quyền đối với 2 quần đảo thuộc về Việt Nam. Trong thư tịch của chúng ta đã nói về việc các chúa Nguyễn cử những đoàn hải đội Bắc hải, đoàn Hoàng Sa đến những hòn đảo ấy. Chúng ta cũng biết rằng năm 1834, triều Minh Mạng đã có bản đồ vẽ rất cụ thể về dải vạn lý Trường Sa trên biển Đông.
Nhà sử học Dương Trung Quốc: “Tìm tòi nguồn tư liệu làm phong phú lịch sử dân tộc, trong đó có lịch sử chủ quyền là rất quan trọng”. 
Như vậy, có thể nói thư tịch và bản đồ của các triều đại Việt Nam đều đã thể hiện vị trí Hoàng Sa, Trường Sa. Trong khi đó, những hoạt động mang tích chất quản lý chủ quyền trên bản đồ Trung Quốc lại không đề cập tới hai quần đảo này. Đây là một yếu tố quan trọng khi xác lập chủ quyền về mặt lịch sử, đặc biệt trong bối cảnh xảy ra tranh chấp hiện nay.
Vì thế việc phát hiện tấm “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do chính người Trung Quốc làm chính là sự thừa nhận chủ quyền quản lý của nhà Thanh, ít nhất là cho đến đầu thế kỷ 20 (như niên đại bản đồ là năm 1904), chỉ đến đảo Hải Nam, tôi cho là rất có ý nghĩa. Bản thân tấm bản đồ sưu tập được này cũng rất có giá trị vì được xuất bản hơn 100 năm trước, là sản phẩm của nền bản đồ học của Trung Hoa.
 Việt Nam có văn bản sử sách nào tương ứng với tấm “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” này có giá trị đối chiếu về chủ quyền lãnh thổ?
Theo tôi, chúng ta không cần phải so sánh việc này, vì gần 100 năm  trước khi “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” xuất bản (năm 1834), chúng ta đã khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa trên bản đồ Việt Nam. Nếu như dựa vào các thư tịch của các triều đại Việt Nam thì Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về chúng ta còn lâu hơn nữa.
Bảo tàng Lịch sử quốc gia được tiếp nhận tấm bản đồ do chính tay người Trung Quốc lập hơn 100 năm trước thừa nhận việc không có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa trong khi nước này vừa tuyên bố thành lập cái gọi là "thành phố Tam Sa" càng có ý nghĩa đối với chúng ta?
Thực sự, tôi không có sự liên tưởng đến sự kiện cụ thể đó! Về những việc làm của Trung Quốc vừa qua, Nhà nước đã lên tiếng và tôi rất đồng thuận với cách đặt vấn đề như vậy. Trong lúc còn đang tranh chấp mà phía bạn có những động thái để biến thành "việc đã rồi" thì đó là cách làm không minh bạch.
Bằng chứng khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, chúng ta đã có. Còn việc bổ sung thêm những bằng chứng, tăng cường thêm ý thức của người dân trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo cũng rất quan trọng. Mỗi nhà khoa học cần tiếp tục nghiêm cứu, tìm tòi những nguồn tư liệu để làm phong phú lịch sử dân tộc, trong đó có lịch sử chủ quyền. Tôi cho rằng điều đó cũng rất quan trọng.
Ông nhấn mạnh trách nhiệm của các nhà khoa học. Còn ở góc độ người trong ngành, ông mong muốn gì việc thể hiện vai trò quản lý của nhà nước, tiếng nói của chính quyền?
Chúng ta đừng tách việc của chính quyền hay của giới ngành nào ra. Tôi nghĩ rằng đây là trách nhiệm chung của cả Nhà nước và công dân. Cụ thể như việc làm của tiến sĩ Mai Hồng hiến bản đồ sau hơn 30 năm lưu giữ cho Nhà nước cũng trách nhiệm chung. Những cơ quan như của Bộ Ngoại giao, Cục Lưu trữ cũng thu thập được rất nhiều bằng chứng.
“Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do người Trung Quốc vẽ cách đây hơn 100 năm cho thấy họ đuối lý khi tranh chấp ở biển Đông.
Như ông nói, các cơ quan chức năng của chúng ta nắm thừa đủ bằng chứng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ hàng trăm năm nay. Tuy nhiên, nhiều người dân còn chưa biết đến những cứ liệu lịch sử này. Làm cách nào để cả người dân Việt Nam và Trung Quốc đều biết những thông tin này?
Việc phát hiện "Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ" lần này làm cho chúng ta nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm phải tiếp tục thu thập tài liệu bảo vệ chủ quyền dân tộc, gồm sách vở, bản đồ, không những của chúng ta mà của cả Trung Quốc và nhiều nước khác nữa.
Việt Nam nằm trong không gian trọng yếu của con đường vận tải biển. Vì vậy, biển Đông được thể hiện rất nhiều trên bản đồ của các nước phát triển hàng hải trên thế giới như Hà Lan, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Đức… Chúng ta phải có ý thức sưu tập các tài liệu để có thêm bằng chứng thuyết phục khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Điều đó còn cho thấy việc bảo vệ chủ quyền là dựa trên cơ sở lịch sử vững chắc.
 Xin cảm ơn ông!

Quang Phong

----------------------
* nguồn: dantri