Hiển thị các bài đăng có nhãn hồi ức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hồi ức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2012

hồi ức về những ngày thụ án trong tù - hoàng linh



Nhà báo Hoàng Linh sinh ngày 13-10-1962, công tác tại Báo Tuổi Trẻ TPHCM từ tháng 8-1989. Bản án hình sự phúc thẩm số 2114 /HSPT từ ngày 15-9- 003 đến 30- 0-2003 đã tuyên Hoàng Linh 12 năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 22- 3-2002. Ngày 24/10/2007 Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam ký quyết định đặc xá cho nhiều phạm nhân đã cải tạo tốt và đã khắc phục hoàn toàn hậu quả vụ án, trong số đó có nhà báo Hoàng Linh. Cũng như nhiều mảnh đời hoàn lương khác, với sự giúp đỡ của xã hội, nhà báo Hoàng Linh đã có việc làm và ổn định cuộc sống. Những ngày tháng tăm tối trong lao tù được nhà báo Hoàng Linh viết lại thành những hồi ức in 2 kỳ trên ấn phẩm Dòng Đời số 1 phát hành ngày 25-5-2012 và Dòng Đời số 2 phát hành ngày 1-6-2012. Như một nguồn tư liệu văn chương và báo chí bổ ích, lethieunhon.com xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc gần xa.

Kỳ 1: Đại gia điên loạn và thế giới tâm linh của tử tù

Những bạn tù đầu tiên

… Tôi được đưa đến một trại giam ở TP.HCM tạm gọi là trại T, thủ tục đầu tiên là cởi đồ ra khám xét, xem có đem vật cấm vào trại không và đi thẳng vào buồng giam. Cửa sắt đóng sầm sau lưng, trước mặt là bóng tối phủ đầy, chân tôi ngập trong cái gì đó, mùi xú uế xông lên nồng nặc.
- Bình tĩnh ông thầy, ông thầy đạp trúng “thần tài” của đại gia điên rồi.
Buồng giam dài khoảng 3 m, chiều ngang cũng vậy, hai bên là hai phản ngủ bằng xi măng, giữa là lối đi đầy phân và nước tiểu. Phía bên phải là cái đầu cắt cao của ai đó hơi nhỏ con, bên trái là người cao gầy chân bị xích lại. Tôi nhanh chóng làm quen với Hải, người bạn tù dễ mến đầu tiên trong cuộc đời tù tội mà tôi không ngờ nó sẽ kéo dài đến vậy. Còn ông bạn bị xích chân, người mà Hải gọi là đại gia điên hóa ra là người quen: Trần Văn Giao, giám đốc bất động sản với nhiều dự án nổi tiếng và càng nổi tiếng với mối quan hệ cùng diễn viên điện ảnh rất nổi tiếng V.Tr. Tôi mở lời chào, Trần Văn Giao đứng một chân, niệm chú bắt quyết trông điên không chịu được.
- Nó giả điên, tiêu tiểu tùm lum nhưng chưa dám ăn cơm với phân…
Có tiếng đập tường thình thình từ cả hai phía, Hải áp tai vào tường, vừa gò vừa đập để trả lời:
- Chúng nó hỏi ông thầy tội gì, em nói là thầy giáo đụng xe người ta, nó nói nếu là băng Năm Cam thì nói chuyện, còn “se sẻ” thì thôi. Em nói ông thầy là chim cút.
Tôi đang rầu thúi ruột nhưng cũng phải bật cười trước những chuyện kỳ lạ trong nhà tù. Chia cho Hải nửa ổ bánh mì cán bộ công an mua cho, đưa nửa ổ cho Trần Văn Giao, anh ta xô ra rồi hạ chân lê xuồng bồn cầu ngồi đưa mặt vào bồn cầu nói rì rầm.
- Nó đang nói chuyện với “chị thỏ”… Lẽ ra lính mới phải nằm dưới “phi đạo”, nhưng thôi, ông thầy lên nằm với em…
Đang đuối sức, vừa đặt lưng xuống phản xi măng tôi đã ngủ vùi. Đang mê mệt có ai đó lôi tôi dậy:
- Thằng điên ngủ rồi, em không biết sống với ông thầy được bao lâu nên phải nói ngay bây giờ. Cán bộ quản giáo trại này tốt lắm, không để tù bị điều tra đánh đâu. Nếu thấy nó (cán bộ điều tra) muốn động thủ ông thầy phải la lớn “báo cáo cán bộ, điều tra đánh tôi”, quản giáo sẽ đưa mình về buồng giam không cho hỏi cung nữa.
Mười tám ngày trôi qua tôi vẫn không thừa nhận điều gì và rất an tâm với “cẩm nang” của Hải. Điều kiện vệ sinh của buồng giam tiếp tục kinh khủng, Trần Văn Giao vệ sinh ngay chỗ nằm và trộn phân vào cơm, nói năng lảm nhảm nhưng đã ngừng tấn công Hải. Tôi bàn với Hải đề nghị cán bộ tháo xích cho Trần Văn Giao.
- Không được đâu ông thầy, nó phá dữ lắm, đánh bạn đồng cảnh, tạt nước dơ vô cán bộ. Mà ông thầy biết chưa, hai buồng giam kế bên đã chuyển đi hết, họ cách ly ông thầy rồi, không phải chuyện bình thường đâu! Ông thầy hãy lo cho mình trước đã.
Dù vậy khi gặp cán bộ tôi vẫn đề nghị cởi xích cho Trần Văn Giao, trại giam đồng ý với điều kiện tôi phải cam kết Trần Văn Giao sẽ thực hiện đúng nội quy, không quậy phá nữa. Được tháo xích, Trần Văn Giao dọn dẹp phòng khá sạch và mặc quần dài áo sơ mi trắng suốt, kể cả lúc đi ngủ, nhưng vẫn không nói chuyện, lúc nào cũng tọa thiền quay mặt vào tường lâu lâu la lên: “Tr. ơi, anh yêu em”.
Đến ngày thứ 19, vừa điểm danh phát cơm nước xong, cửa phòng giam lại mở ra:
- Anh Hoàng Linh, chuyển trại.
Hải rớt nước mắt dặn nhỏ tôi “ông thầy coi chừng “chèo” (cơ sở của điều tra) nhé” .Trần Văn Giao xin cán bộ cho tôi nán lại ít phút và anh hát tặng tôi trọn bài hát có câu đầu là “Như chưa từng có giây phút lìa xa”… Hơn 10 năm sau, khi ra tù tôi mới biết đó là bài “Chân tình”.

Trong buồng giam số 7

Gặp lại anh điều tra viên khám nhà tôi:
- Anh Linh vào xe cho, sẽ là kỳ nghỉ dài hơn ông tính đấy, vì ông không hợp tác nên chúng tôi buộc phải chuyển ông đến nơi rất phù hợp với ông.
- Tôi ổn không cán bộ?
- Gọi tôi là anh em được rồi, ông không ổn, báo đăng ông dữ lắm, báo P. còn viền đen hình ông, y như ảnh báo tang.
Sau câu đó anh công an không nói thêm câu nào, tôi thì nhìn mê mệt cảnh vật bên đường qua cửa kính xe. Ôi Sài Gòn, không biết còn gặp lại không!
Vài giờ sau, tôi được bàn giao cho trại tạm giam của một tỉnh, tạm gọi là trại G. Người đàn ông trông như thầy giáo, áo sơ mi ngắn tay, kính gọng đen, tự giới thiệu là thiếu tá, phó điều tra gì đó nghe không rõ:
- Mình bị thần kinh tọa, đau lắm nhưng cũng còn đủ sức tiếp đón ông Linh. Hoàng Linh đã đến đúng nơi rồi.
Ông ta đưa tôi đến buồng giam P7, tù gọi là xà lim P7:
- Nhà ông số 7, tôi cũng cho ông ở buồng giam số 7, các ông chỉ toàn thích số đẹp. Châu Phát Lai Em, Hoàng lựu đạn, Dũng chim xanh đều ở buồng này và đều cúi đầu nhận tội. Không quá 7 ngày đâu.
Những gì diễn ra ở đây, hai phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Năm Cam đã làm rõ, tôi chỉ ghi chép lại mấy chuyện lặt vặt, cũng gọi là khá ly kỳ.
Buồng giam quá tối nên lát sau tôi mới nhận ra đống thịt lù lù ở phản bên phải là Sáu Được, một nhân vật lừng danh trong vụ Năm Cam, phản bên trái là một người mày râu nhẵn nhụi, tóc chải láng mướt như đang ở ngoài đời tự giới thiệu tên là Ba Tân. Sáu Được sợ “chèo” nên không dám nói gì còn Ba Tân thì huyên thuyên trăm chuyện, nào là Hồ Việt Sử ở buồng bên cạnh, Năm Cam cũng ở trong trại này. Tôi ậm ừ cho qua chuyện rồi đưa bàn chải đánh răng bị chặt cán chỉ dài bằng ngón tay trỏ thắc mắc. Ba Tân bảo:
- Mấy thằng tù hay mài nhọn bàn chải đâm nhau nên cán bộ chặt cụt cho chắc cú.
Thấy đã hết chuyện nói, Ba Tân nằm xuống ngáy pho pho. Lính mới phải nằm dưới “phi đạo”, không có chiếu tôi trải áo ra nằm xuống. Nằm chưa ấm chỗ, cửa buồng giam lại mở để đưa tôi ra hỏi cung.
Chắc đã nửa đêm về sang, có tiếng động ầm ầm cho biết cửa buồng giam mở ra liên tục, Sáu Được trở mình: “Ở đây cán bộ làm việc suốt đêm, vội gì, tới chú bây giờ!”.
Tôi thấy Năm Cam trên đường từ buồng giam lên phòng cung, Năm Cam đi khập khễnh, tóc bạc trắng, răng cũng chẳng thấy… Tôi xin được chào thăm Năm Cam, ông phó điều tra nói:
- Không được, nhưng ông và Năm Cam sẽ phải đối chất về mối quan hệ với ông H (lúc đó là thứ trưởng Bộ Công an).
- Tôi không biết ông H.
- Biết hay không đừng vội trả lời.

Giang hồ cộm cán cũng ngán… tử hình

Thời gian sau có những đêm cửa các buồng giam mở rất lâu mới đóng lại, Ba Tân giải thích: nhập tù mới.
Trại G chật ních, toàn giới giang hồ cộm cán trong Nam ngoài Bắc đều được đưa về đây: Năm Cam, Hiệp phò mã, Long đầu đinh, Dũng đui, Dũng Bắc Kạn, Oanh hà, Thủy té, Hải bánh, Hải chó ngao, Bình kiểm, Thành sùi, Sơn bạch tạng… Không hiểu vì lý do gì tôi được chuyển đi các trại khác rồi lại quay về trại G để chờ ngày đi trường (đi trại giam để thi hành án phạt tù). Nếu phạm nhân khác khi điều tra xong xác định hành vi phạm tội đều được chuyển lên buồng lớn nhốt tập thể thì tôi vẫn ở buồng giam riêng đến ngày đi trường. Hai năm, quá dài với sức chịu đựng của tôi. Tôi thèm được ra khỏi buồng giam dù chỉ trong phút chốc, thèm bị đánh vào mặt miễn là được nhìn thấy trời xanh mây trắng, nhìn thấy mặt người. Đáng sợ nhất là khi đêm xuống, những tử tội chờ ngày đi bắn không ngủ, khua xích chân và ca hát nói chuyện suốt đêm. Chỉ khi đến kẻng 5 giờ sáng họ mới an tâm ngủ vì biết còn được sống thêm một ngày nữa, bởi lệnh thi hành án tử hình luôn được bắt đầu bằng thủ tục đưa tử tội ra khỏi buồng giam vào lúc hai, ba giờ sáng. Tử tội sẽ được bữa ăn cuối cùng gồm cơm, canh, cá kho, ly cà phê sữa và điếu thuốc lá… Thường tử tội chỉ chọn cà phê và điếu thuốc mà không dùng trọn vẹn bữa cơm ân huệ.
Tử tội Châu Phát Lai Em thường chờ đợi bằng cách rao lô tô:
 - Con vượn bồng con
   Lên non hái trái
   Con gái có chồng
   Đàn ông có vợ
   Còn người ở đợ
   Thì kêu lô tô
   … Tôi bóc con cờ ra, cờ ra con mấy, con mấy gì đây…
Sát thủ giết người nổi tiếng nhất trong giới giang hồ đang chờ thần chết bóc con cờ ra! Châu Phát Lai Em là trùm băng chợ cá Cầu Ông Lãnh, từng thách đấu, giết người giữa ban ngày ngay chợ cá. Bao giờ cũng vậy, Lai Em rao lô tô xong các buồng giam khác đáp lễ bằng bài hát bày tỏ hối hận vì không thể về nhà chịu tang mẹ:
  - Khăn tang cha quấn trên đầu đưa mẹ ra nghĩa trang buồn
   Trại giam bốn bức tường cao con ăn năn biết nói sao
    Hồi nhỏ đã bao mùa lúa con cùng sống trong gia đình
    Đến năm mười sáu con cải lời của mẹ cha
    Giờ đây khôn lớn con bơ vơ Đồng Phú ba (tên phạm nhân dùng gọi phân trại một trại giam ở miền đông nam bộ).
Các phạm nhân khác tiếp lời bằng những bài hát nói về nỗi nhớ xã hội, gia đình, sự ăn năn hối hận, thế thái nhân tình và sự bội bạc của người đời. Cuối cùng im lặng bao trùm, những người tù quay mặt vào tường khóc thầm.

“Thế giới tâm linh” của những kẻ mặc áo tù

Người tù có những niềm tin kỳ lạ: cào cào bay vô phòng là có thăm nuôi, con gián là đổi buồng giam, bọ ngựa là có “chèo”, cú kêu hoặc chim thầy chùa gõ cốc cốc là quê nhà có tang. Tù sợ nhất là “cặp đôi hoàn hảo” chim thầy chùa và chim cú nối nhau tấu khúc “Tiếu ngạo giang hồ”. Nghĩa là nếu chim thầy chùa gõ mỏ ban ngày, tiếp đến cú rúc ban đêm thì ngày mai tù đi xử bị tuyên án tử. Tôi không nhớ là ngày mấy tháng mấy của năm đó, vừa phát cơm chiều xong cả bầy chim thầy chùa gõ mỏ cốc cốc vang rền ở đám cây gòn khu biệt giam vừa bay đi thì ở đó lại phát ra tiếng cú rúc không rầm rộ như bầy chim gõ mỏ nhưng đều đều, dai dẳng không dứt như tiếng gọi hồn…

Vừa kẻng báo ngủ (21giờ) có tiếng kêu cứu từ dãy biệt giam cách tôi mấy buồng: “Báo cáo cán bộ có người tự tử”. Bị can Thanh T (trong vụ án buôn bán chất ma túy) thắt cổ chết. Tôi còn vài lần chứng kiến sự tiên nghiệm này của người tù. Vào đúng đêm trăng non, chim thầy chùa gõ mỏ, cú rúc trước phòng giam tử tội Sáu H. Trong quá trình điều tra, bà Sáu H tỏ ra bản lĩnh đàn chị, nhận hết hành vi để giảm nhẹ tội cho đám đàn em. Khi còn ở “võ lâm Trung Nguyên” thì khỏi nói, Sáu H cầm đầu băng cướp trên 10 thành viên hoạt động trên xe tốc hành, bà cho đàn em tiếp cận hành khách, đầu độc họ bằng nước ngọt, nước tăng lực pha thuốc mê. Sau khi lột sạch tài sản, Sáu H ném hành khách xuống đường, mặc kệ nạn nhân sống chết. Sáu H còn chỉ đạo đàn em mua hẳn 2 xe tốc hành để hoạt động khép kín. Băng cướp di chuyển liên tục theo xe tốc hành nên công an rất kỳ công mới phá án được. Cho dù đã đạt đến “cảnh giới” của tội ác nhưng khi nghe “cặp đôi hoàn hảo” tấu khúc “Tiếu ngạo giang hồ”, bà Sáu H đã hoảng loạn la hét, van xin các oan hồn tha tội rồi ngất xỉu, bác sĩ trại phải xuống cấp cứu. Ngay hôm sau, Sáu H bị tuyên án tử hình.
Thì ra cho dù xem thường mạng sống người khác, họ vẫn run sợ khi tính mạng chính họ bị đe dọa dù đó là nguy cơ thật sự hay chỉ là giấc chiêm bao, với những tiếng chim hoặc những hiện tượng thiên nhiên bình thường.
Sự tiên nghiệm có vẻ vô lý của người tù được lập lại nhiều lần trong ngày xét xử Trương Văn Cam (án tử), Vũ Hoàng Oanh (Oanh hà, chị ruột Dung hà, án tử), Ngô Đức Minh (Minh sứt, bị cáo trong vụ án buôn bán chất ma túy, án tử). Sau này Ngô Đức Minh được ân giảm còn tù chung thân.

Sau khi bị tuyên án tử, Trương Văn Cam bỏ ăn mấy ngày, gặp ai cũng nhắn lời xin lỗi: “Chú cho anh xin lỗi, vì hoàn cảnh thúc ép chứ anh không có ý hại chú”. Trương Văn Cam cũng tỏ ra ăn năn hối lỗi nhắn lời xin lỗi gia đình những nạn nhân. Trong bức thư tuyệt mệnh trước lúc bị bắn, Trương Văn Cam dặn dò những người trong gia đình không đi theo vết xe đổ của mình… Phải chi tiếng chim dị thường đó cất lên sớm hơn khi họ vừa tập tễnh bước chân vào con đường tội lỗi!
Gần hai năm ở buồng giam, tôi mới nhận quyết định thi hành án phạt tù tại một trại ở miền Đông Nam bộ, tạm gọi là trại A, tù thường gọi là đi trường, nơi mà về nguyên tắc người tù sẽ được cải tạo lao động, học nghề trong cộng đồng tù nhân rộng lớn để trở thành công dân có ích khi mãn án phạt.
Tôi xin phép cán bộ từ giã bạn thân thiết, cán bộ ngạc nhiên khi tôi quay lại buồng giam và đem ra con cóc lớn. Tôi bắt nó vào phòng và nuôi gần một năm nay, buổi tối tôi đặt con cóc lên bụng, nó nhảy vòng quanh mặt tôi để ăn muỗi. Bây giờ nó trắng kỳ lạ như con vật bạch tạng, tôi nhìn xuống tay mình và thấy cũng trắng kỳ lạ! Tôi thả con cóc vào đám cỏ, trả tự do cho bạn thân. Từ đây tôi có thể nhìn thấy trời xanh mây trắng, nhìn thấy mặt người.

Đọc hồi ức của nhà báo Hoàng Linh, chắc chắn không ít người sẽ cảm thấy ê chề khi nhìn lại những tác phẩm văn xuôi Việt Nam đã và đang được tung hô trong vài năm gần đây. Cuộc đời sinh động và khốc liệt như thế, nhưng tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam lại tẻ nhạt và đơn điệu. Một thế giới phía sau song sắt được nhà báo Hoàng Linh kể lại cũng chính là lời cảnh tỉnh cho thứ văn xuôi õng ẹo và nông cạn vẫn chiếm lĩnh văn đàn nước ta. Hãy nghe nhà báo Hoàng Linh chia sẻ: “Bước ra khỏi trại, bạn tù kêu tên chia tay rất nhiều, nhưng tôi không dám quay đầu nhìn lại mà đi thẳng đến dòng kinh cạnh đập nước. Tôi định nhảy xuống để rủ sạch tội lỗi, nhưng thôi. Tội lỗi có thể tha thứ, nhưng không thể rũ bỏ được, nó sẽ đeo đẳng suốt đời”.

Kỳ 2: Thoát chết trong gang tấc để đi đến phút giây “qua kinh sạch mình”

Đi tù cũng giống… đi tu

Chuyến xe tù đưa tôi từ trại G đến một trại giam của Bộ Công an ở miền Đông Nam Bộ, tạm gọi là trại A, bề ngoài to đẹp như công viên. Sau khi làm thủ tục, cán bộ trại bảo:
- Trại sẽ đổi cho anh 500.000 đồng tiền phiếu để mua những thứ cần thiết tại căn-tin trại. Thường đến ngày thăm nuôi mới đổi nhưng cán bộ giải quyết để anh sinh hoạt. Số tiền còn lại sẽ gửi lưu ký. Anh nên sinh hoạt tiết kiệm. Tay anh sao thế?
- Báo cáo cán bộ, gần đây tay tôi bị rung.
- Tôi cho anh quả banh tennis cũ, lúc rảnh anh dùng lòng bàn tay bóp nó để trị.
Không ngờ món quà này cứu tôi thoát chết khi tôi chuyển đến trại “Bồ Câu” sau này.
 - Anh ở buồng B3. À, anh có nhiều người quen trong đó…
Tôi chập choạng bước. Phòng B3 đây rồi, ngang 6 m, dài 20m, hai phản xi măng lót gạch, hai bên phía trên là hai gác lửng tương tự, trong cùng là phòng vệ sinh tập thể. Đội đi lao động hết nên tôi ra ngoài và bị lôi vào nhóm đang uống trà bên bếp lửa.
- Tôi là Thảo ma…
Thảo ma, nhân vật thân cận nhất của Năm Cam, người theo Năm Cam từ thuở hàn vi đến khi ông trùm xộ khám. Rồi đến Lắm què, tay “phá hỏa” trong các sòng bài (chia bài), nay rót trà không một giọt rớt ra ngoài, điêu luyện như chia bài. Mau mắn lịch thiệp là Tám Liệu, người được phân công đưa hối lộ trong băng Năm Cam. Cũng như tôi, mấy anh này án tù đều trên hai con số. Họ lên trước tôi vài ngày, vẫn ổn, chưa va chạm ai trong trại… tất cả đều nhờ sự giúp đỡ của Dũng lì. Dũng lì thi hành án tại đây đã lâu, vào tù ra khám cũng nhiều nên biết cách sắp xếp cho anh em. Tôi đã đọc phóng sự nhiều kỳ về Dũng lì, con đại bàng “thành bịnh” ở đất Bình Thạnh, nay mới gặp. Dũng lì nấu nồi thịt kho mời cơm anh em dưới gốc cây lớn:
- Ông Linh ăn cơm với tôi vài ngày rồi tôi sắp xếp cho thằng Vinh ở B3 lo cơm cho ông.
Chiều tôi sang ăn cơm với Vinh, 20 tuổi người ở quận 8 TP.HCM. Phòng đông nghẹt, mỗi người được nằm một cục rưỡi gạch chiều ngang, riêng tôi được cán bộ sắp cho nằm cạnh anh Hiệp, đội trưởng kiêm trưởng buồng, được 2 cục gạch. Khi cửa buồng giam khóa lại, cơm nước xong mọi người gần như cởi hết quần áo vì quá nóng, xem tivi đang phát phim “Thời niên thiếu của Lý Tiểu Long”, hào hứng lắm. Phim đang hay, có kẻng báo ngủ, đội trưởng tắt tivi, ai nấy nằm xuống lập tức nhắm mắt.
Cả hôm sau, chúng tôi học nội quy trại giam, gồm 3 nhóm: những điều phải làm, những điều nên làm, và những điều không được làm.
Mấy anh em lắc đầu: chắc không làm nổi! Tôi nghĩ khác, khi khó khăn đến ta không thể trốn tránh mà phải đề ra nguyên tắc ứng xử để sống cùng với khó khăn, nhất là những khó khăn kéo dài. Cứ xem nội quy như quy định ở nhà tu khắc kỷ, thôi thì nếu ngoài đời đi tu tự nguyện thì ở đây đi tu bắt buộc, cùng đi trên con đường trở thành người tốt cho xã hội, vậy tại sao không tu?
Tôi còn hỏi cách thức se sợi chỉ làm dụng cụ nhổ râu, cắt móng tay móng chân vì trại chỉ cho cắt tóc vào những lúc nhất định. Mấy tay giang hồ gộc còn dạy tôi tự vệ và chiến đấu bằng cái khăn tắm, thứ “vũ khí” mà người tù có thể mang bên mình bất cứ lúc nào.

Đến trại “Bồ Câu”

Hơn 10 ngày sau, một sáng sớm có lệnh chuyển trại, chỉ một mình tôi, nơi đến không được thông báo.
Chuyến xe tù qua nhiều cầu phà, đường càng lúc càng lắc léo, đến nơi mặt trời đã lên đỉnh đầu. Nếu cảnh quan bên ngoài trại A đẹp như công viên thì ở đây là Shangilar đẹp đến nao lòng… Con đường độc đạo trải đá dài hun hút, hai bên là hai hàng cây xanh trồng theo dạng kiểng cổ thụ đều tăm tắp, bên trong là kỳ hoa dị thảo đủ màu sắc được chăm sóc công phu, những mái nhà nhô lên xa xa như lâu đài trong chuyện cổ tích. Bên kia là đập nước chảy cuồn cuộn. Nắng như nung. Bỗng có tiếng đập phành phạch trên không, trời như tối sầm lại, hàng ngàn con bồ câu từ đâu bay về trại.
Tôi mê mãi nhìn đám mây bồ câu kéo dài không dứt cho đến khi nghe tiếng bước chân rào rào. Tôi nhìn xuống cảnh tượng thật hùng tráng, đoàn người kéo dài hàng cây số thân hình lực lưỡng để trần bóng loáng lần lượt nhảy xuống đập nước bơi sang bờ bên kia rồi xếp thành hàng. Bao nhiêu bùn đất đều trôi theo dòng nước. “Qua kinh sạch mình”, chuyện này tôi nghe kể nhiều hồi ở tạm giam, giờ mới thấy. Nghe nói những người phạm tội nặng khi ra tù đều nhảy xuống kinh bơi qua bờ bên kia để rũ sạch tội lỗi trước khi về đời. 
Cán bộ dẫn giải đưa tôi vào trại. Đây là trại CB nhưng tôi vẫn thích gọi là trại Bồ Câu như ấn tượng (xin viết tắt là trại BC từ đây, và xin lược bỏ “báo cáo cán bộ” trong phần đối thoại để dễ đọc - PV).
Tôi được đưa về đội 4 do Đức đại bàng làm đội trưởng:
 - Anh Linh muốn sinh hoạt với Tân man hay Kỳ khùng?
 - Tân man (tôi nghĩ man man chắc đỡ hơn khùng).
Phạm nhân (PN) sinh hoạt theo nhóm từ 2 đến 4 người gọi là mâm, việc này có ý nghĩa giúp nhau trong sinh hoạt: người lấy nước, người lấy cơm, người hâm nấu thức ăn, người giặt đồ… PN đông hơn trại A nên tôi chỉ được nằm một cục rưỡi gạch, mà ngủ ngon.
Hôm sau đội đi làm cỏ lúa, cách trại BC khoảng 6 km sâu trong cánh đồng. Tôi không nhớ chỉ tiêu được giao là bao nhiêu nhưng nhiều lắm. Tân man biến đâu mất. Không chung mâm với ai nên khi xin nước uống ai cũng lắc đầu, tôi đành tìm vũng nước trong súc miệng cho đỡ khát vì trời nóng như đổ lửa. Đội hình lao động dàn hàng ngang, tôi tụt lại sau khá xa, đuối sức. Cán bộ giám sát tên Xa bước xuống:
 - Anh Linh đến chỗ đầu bờ quét dọn cho sạch để trưa cán bộ ăn cơm. Đức chấm chỉ tiêu cho anh này.
Nắng đứng bóng, PN di chuyển đến giữa ruộng khô để ăn uống, nghỉ trưa, cán bộ vũ trang chốt xung quanh trên các bờ bao, không có cây lớn nên cán bộ cũng chịu cảnh nắng nóng như tù. Từng nhóm PN dựng lều bạt, nấu mì gói làm canh ăn cơm. Tôi không thành mâm nào nên cởi áo tù che mặt ngủ. Đang mơ màng chợt có cái gì đó rớt trên bụng: ổ bánh mì thịt, cùng bóng người mặc cảnh phục đi phớt qua, tôi chỉ thấy lưng, Ôi, quới nhân! Tôi ăn ngấu nghiến và còn được Đức đại bàng kêu đến mâm cho uống trà.
Hôm sau rút kinh nghiệm tôi nhập vào mâm Tùng lé và không phải lo về hậu cần. Buổi trưa lúc tù nghỉ lao động trời đang nóng như chảo lửa bỗng tối sầm, nước đổ như thác, tối đen. Lệnh tập hợp, điểm danh vang rền. PN xếp thành hàng đi về trại, ban đầu mát mẻ sau lạnh thấu xương.
Đức đại bàng nói cán bộ Xa rất nhân đạo cứu tôi vì nếu không tôi sẽ phải đứng học 2 giờ nội quy vì thiếu chỉ tiêu và ảnh hưởng xếp loại thi đua.
 - Hoàng Linh thấy rất nhiều bồ câu phải không? Bồ câu là linh vật của trại này, không ai được đụng đến. Ngày mai đội đi mót lúa, anh Linh sẽ còn thấy nhiều chuyện kỳ lạ hơn, chỉ cần tù gầm lên chim trời rớt xuống, chuột trong hang bò ra nộp mạng…
 - Kim mao sư vương Tạ Tốn?
 - Không phải sư tử hống trong phim chưởng, mà là tù hống…
Đúng như vậy, khi đội đi mót lúa, anh em ào xuống cùng lúc, những con chim thấy động bay vụt lên, anh em thót bụng lại gầm lên: “Mầy” thì chim rớt lịch bịch, bị tóm gọn. Chuột cống nhum to bằng bắp chân bung khỏi hang chạy trốn, lại “mầy”, chúng cúm giò tê liệt, bị tù vồ lấy.
Những ngày làm đồng kéo dài với đủ loại việc, tôi đen như cục than mà cứng cáp hơn. Nhưng bắt đầu rắc rối: tắm mất xà bông, đánh răng mất kem, ăn cơm mất nồi thịt kho, nhận quà thăm nuôi bị rọc túi xách, đang ngủ bị đạp vào bụng… Tôi xin cán bộ chuyển đội khác và cũng nhờ Đức đại bàng cho tiếp cận anh Hai, án 18 năm, người được coi là uy tín nhất trong PN:
 - Tôi án dài nên chỉ xin hai chữ bình yên. Rừng nào cọp nấy, anh là cọp còn tôi là cắc ké kỳ nhông, xin anh quan tâm để tôi cải tạo tốt.
Anh Hai gật đầu. Thế là các hết hiện tượng quấy rối. Tôi được chuyển đội 2, tách vỏ hạt điều. Đội trưởng là anh Chín chó.

Suýt mất mạng dưới tay bạn tù
                                                          
Trại có gíam thị mới, ông là người địa phương công tác tại trại này hơn 10 năm, rất thương tù. Giám thị tiến hành bổ sung cơ sở vật chất để việc lao động học nghề và sinh hoạt của PN tốt hơn, như xây nhà xưởng, hệ thống cung cấp nước, thư viện, cà phê văn hóa, sân bóng, thành lập đội văn nghệ… Trong trại vui nhộn hơn, giảm hiện tượng gây rối, đánh nhau, cờ bạc…
Trại giam này thật ra không giống nhà tù (trừ việc cách ly PN ra khỏi xã hội) mà nửa giống hợp tác xã nông nghiệp nửa giống làng thanh niên. Trại phân theo tổ đội đa ngành nghề: mộc, hồ, trồng kiểng, tách hạt điều, may banh, trồng lúa, trồng cây công nghiệp… Lao động theo chỉ tiêu và được chấm công, nếu đủ chỉ tiêu và vượt chỉ tiêu PN được đi cà phê, đánh bóng, thư viện, xem phim… và được xét giảm án từng đợt.

Tôi được ra lao động tự giác và được phân công lao động ở nhiều nơi rồi làm đội trưởng đội văn nghệ, trật tự… Làm trật tự, tôi đã đụng chạm đến nhiều anh em PN kể cả các băng nhóm đang nhen nhóm, trở thành mục tiêu tấn công.
Hôm đó tôi ra xưởng hạt điều để phụ giúp cán bộ giám sát buổi nghỉ trưa, từ phía sau Du và Sò nhảy đến đè tôi xuống đất. Tôi vùng thoát ra được và trông thấy Du cầm dao lột vỏ hạt điều, Sò cầm bóng đèn đập vỡ đầy mảnh nhọn cùng xông tới. Trong tù không có khái niệm bỏ chạy, tôi xốc đến Sò, tay trái gạt bóng đèn, tay phải bóp cổ Sò, bàn tay tập luyện với quả bóng tennise rất khỏe làm Sò nghẹt thờ nên đã đâm chậm lại chỉ làm thủng phần mềm hông trái tôi. Tôi quật ngả Sò, ngay bên cạnh Du cầm dao đâm tới. Anh Phước (thư ký đội 1) dùng tay hứng lưỡi dao giúp cán bộ vũ trang khống chế và tước dao của Du. Đức đại bàng từ đầu kia xưởng chạy đến giúp cán bộ ổn định tình hình. Hơn 500 PN chứng kiến cuộc đấu có ai đó la lên “phim hay quá” làm cả xưởng bật cười ồ xóa tan không khí căng thẳng đến nghẹt thở. Ít lâu sau, khi dẫn đội đi khám sức khỏe, tôi bị ai đó từ phía sau đập vào đầu nghe cái rổn, tôi ngả xuống. Tùng lé đè lên người tôi để che các đòn tấn công tiếp tục nhưng kẻ tấn công đã bỏ chạy.
Tú rồng, người cầm cục gạch đập vào đầu tôi khai vì cục gạch bị bể vụn nên bỏ chạy mà không tấn công tiếp. Anh ta nhất quyết không khai ai thuê tấn công tôi dù xác nhận rằng tôi và anh ta không mâu thuẫn gì.

Cao điểm xảy ra lúc vừa ăn tết xong, một PN bí mật bẻ đôi kéo hớt tóc đâm vào cổ tôi từ phía sau khi các đội đang xuất cổng đi lao động. Máu phun thành vòi như thọc huyết heo, tôi lấy cả hai tay bụm lại nhưng máu phun mạnh quá bung cả hai tay ra. Cán bộ Minh dùng khăn lông quấn cổ tôi lại và mang xuống trạm xá cấp cứu. Bác sĩ trưởng trạm nhận định tình hình không ổn nên may vết thương lại và cho chuyển bệnh viện tỉnh, cổ tôi phù máu to như quả bóng. Bảo thái tử (Trương Hiển Bảo, con Năm Cam) cho tôi ly trà đường nóng:
- Anh Linh uống lấy sức, cố gắng mở mắt không được ngủ…
… Hình như đang làm các xét nghiệm, các kỹ thuật viện thông báo các chỉ số để bác sĩ giải phẫu. Có giọng nữ, hình như y tá: “Ông này không bệnh gì mà chết trẻ, uổng ghê”. Tôi dần thiếp đi, bất chợt hiện lên hình ảnh con đường đất đỏ đầy bụi và mái ngói nghèo chốn quê nhà ở Hóc Môn, xin vĩnh biệt…                                                       
Khi tôi mở mắt ra, vật đầu tiên tôi thấy là đôi mắt thật gần của bác sĩ. Ông nói:
 - Ông mê man suốt hai ngày đêm rồi, bị đứt cả động mạch cảnh, tĩnh mạch cảnh và chấn thương cổ nặng nhưng vẫn qua khỏi, thật kỳ diệu. Tôi may thẩm mỹ cho cổ ông đẹp trai…
 Tôi định cảm ơn nhưng không thể vì miệng ngậm dây thở, thân hình dây nhợ tùm lum... Tuần sau tôi ngồi được và ăn uống dần bình thường lại. Ngoài những cán bộ trại giam đến thăm, tôi còn gặp vị khách đặc biệt, anh Chín chó, đội trưởng đội 2, vừa được đặc xá đợt Tết:
 - Họ chỉ cảnh cáo anh thôi, khi về trại đừng tìm hiểu vì sao bị tấn công, như vậy mọi việc tự nhiên sẽ yên. Tù là vậy…
Tôi gật đầu.
Hai tuần sau tôi trở lại trại giam, nghe lời Chín chó tôi lao động bình thường, không tìm hiểu, và đúng là bình yên. Nghe tôi bị đâm, vợ tôi vào thăm và đề nghị ly dị, tôi đồng ý vì hiểu vợ tôi không đủ bản lĩnh vượt qua cảnh chồng đi tù dài hạn.Thủ tục ly dị khá gấp rút để cô ấy kết hôn với một Việt kiều Mỹ.
Mọi việc rồi cũng qua, tết này mâm của tôi xôm lắm vì được báo Tuổi Trẻ thăm nuôi. Ban đầu tôi định không ra vì mắc cỡ, dù sao tôi cũng làm thiệt hại quá lớn cho uy tín của báo, nhưng nỗi nhớ còn lớn hơn nên đành làm mặt dày vậy… Các anh chị đều xót xa vì thấy tôi khác xưa quá nhiều. Họ mua cho tôi đầy đủ các thứ cho cái Tết xôm tụ trong tù, và tặng tôi quyển Chuyện tình tự kể, lập tức tù chuyền tay nhau đọc.
Nhà báo Hoàng Linh lao động tại một xưởng mộc trong tù!

Giấc mơ kỳ lạ và ngày trở về

Năm sau đó dịch cúm gia cầm bùng phát ở nhiếu địa phương, đàn bồ câu bị ra lệnh tiêu diệt nhưng cán bộ bắn được chỉ vài con,tất cả bay đi mất hết. Những anh em cùng sinh hoạt với tôi lần lượt ra đi. Có người mãn hạn, về đời. Có người ra đi vĩnh viễn vì dính HIV/AIDS. Người bạn thân nhất của tôi là Đức đại bàng được đặc xá:
 - Hoàng Linh ở lại bảo trọng, khi nào mơ thấy chúa ngục thì mới được tự do.
 - Chúa ngục trông ra sao?
 - Anh không thể nói được, nhưng đúng như vậy đó…
Đức đại bàng đặc xá đợt 1, tôi có trong danh sách đặc xá đợt 2. Tôi cố hình dung chúa ngục như thế nào để nằm mơ gặp, nhưng khi giấc mơ đến chỉ thấy mặt người đen sì, chắc Bao Công chứ không phải chúa ngục. Và tôi rớt đặc xá năm đó.
Đúng năm sau có đợt đặc xá lớn, tôi được làm thủ tục nhưng không dám đặt niềm tin nhiều. Đêm 23/10/2007 đang ngủ ngon giấc tôi bị lay dậy và trông thấy một người mặc áo bà ba nâu đen, tóc xõa dài che khuất mặt hai tay đóng gông đứng cạnh chỗ ngủ. Tôi la hét và thức giấc, thì ra chiêm bao tôi đã thấy chúa ngục.
Ngày 24/10/2007 tôi được chủ tịch nước đặc xá trả tự do, tổng cộng tôi đã thi hành án tù hơn năm năm rưỡi.
                                                       &

Bước ra khỏi trại, bạn tù kêu tên chia tay rất nhiều nhưng tôi không dám quay đầu nhìn lại mà đi thẳng đến dòng kinh cạnh đập nước. Tôi định nhảy xuống để rủ sạch tội lỗi, nhưng thôi. Tội lỗi có thể tha thứ, nhưng không thể rũ bỏ được, nó sẽ đeo đẳng suốt đời.

------------------------------ 
* nguồn: Báo Dòng Đời, bản vi tính do lethieunhon.com thực hiện!


Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

bố tôi, người lính VNCH - hải lê


 Tôi có một người cha già, lại tàn tật, cụt một chân. Khi tôi sinh ra đời bố tôi cũng đã gần 50 tuổi. Trong một thời gian dài, bố tôi đóng vai trò của một người mẹ, tuy di chuyển khó khăn, nhưng ông lo lắng cho tôi không còn thiếu một thứ gì. Bạn bè thường gọi là “Ông nội trợ” và khen là đàn ông mà bố tôi có đầy đủ các đức tính của người phụ nữ Á đông “công, dung, ngôn, hạnh”, nuôi con khéo léo không ai bằng.
Hồi còn bé, tôi không hiểu được, vì sao không phải mẹ tôi, mà bố tôi luôn luôn ở nhà chăm sóc cho tôi. Từ từ tôi mới nhận ra, trong đám bạn bè, tôi là người duy nhất luôn luôn có người bố bên cạnh. Thiếu tình mẹ, tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy an ủi, mình là người rất may mắn, còn hơn nhiều đứa trẻ thiếu cả tình thương của cha lẫn mẹ.
Sau này tìm hiểu thì tôi biết, bố tôi là một lính VNCH, bị thương trên chiến trường, được mẹ tôi bảo lãnh theo diện đoàn tụ, bà lo cho ông hưởng tiền trợ cấp tàn phế. Lúc tôi được hơn 3 tuổi, bố tôi và mẹ tôi ly dị, bà đã lập gia đình với một người đàn ông khác, nhường tôi lại cho bố tôi nuôi. Trong ký ức trẻ thơ, tôi có hình dung được hình ảnh của mẹ tôi một vài lần, khi bà đến thăm, nhưng rất xa lạ, vì luôn luôn bà đi với một người đàn ông nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng.
Tôi có tí mặc cảm về địa vị bố tôi ngoài xã hội, so với bố của những đứa trẻ khác, tuy nhiên việc chăm sóc tôi thì hoàn hảo, ông chăm lo cho tôi từ việc lớn đến việc nhỏ, không phải đụng tay vào bất cứ thứ gì. Trong suốt thời gian tôi học tiểu học, ông còn thuyết phục ông tài xế xe bus đón tôi đi học ngay tại cửa nhà, thay vì ở trạm xe , cách xa nhà tôi 4 dãy phố. Khi tôi bước vào nhà, lúc nào bố tôi cũng chuẩn bị sẵn thức ăn trưa, nào cá kho, thịt kho, rau xào và có cả canh nữa. Lâu lâu cũng có thức ăn Mỹ, sandwich, hamburger, bơ đậu phộng, và còn thay đổi theo mùa. Giáng Sinh bánh có viền xanh hình cây thông, Valentine có hình trái tim v.v...
Khi tôi lớn hơn một chút, vào năm đầu tiên trung học, tôi lại thích sống độc lập, tôi muốn thoát ra những cử chỉ yêu thương dành cho con nít của bố, vì sợ chúng bạn trêu chọc. Nhưng chẳng bao giờ bố buông tha tôi cả, một đôi khi tôi rất bực mình.
Cấp trung học, tôi không thể về nhà ăn cơm được nữa, phải bắt đầu tập tự lo cho mình. Nhưng bố tôi lại thức dậy sớm hơn thường lệ để chuẩn bị bữa ăn trưa cho tôi. Ông cẩn thận ghi cả tên tôi bên ngoài túi giấy đựng đồ ăn. Lật dưới đít bao giấy, luôn luôn có một vài hình vẽ nhỏ, khi thì căn nhà, khi thì dòng  suối, ngọn núi, chim cá và hình trái tim với dòng chữ “I Love You Tammy!” Nào hết đâu, bên trong những chiếc khăn giấy cũng có những dòng chữ triều mến “Bố thương con nhiều”. Ông luôn viết, hay có những câu nói bông đùa như thế để nhắc nhở là ông yêu thương tôi nhiều, và muốn làm cho tôi vui.
Tôi thường lén ăn trưa một mình để không ai thấy được cái túi giấy và khăn ăn. Nhưng cũng chẳng giấu được lâu. Một hôm, một đứa bạn tình cờ thấy khăn ăn của tôi, nó chộp lấy la lên và chuyền đi khắp căn phòng cho mọi người xem. Mặt tôi nóng bừng, bối rối, mắc cỡ muốn chui đầu xuống đất.
Bữa hôm đó tôi về, đã làm mặt giận với bố tôi và “cấm” ông ấy không được viết, vẽ “bậy bạ” trên khăn giấy nữa, để bạn bè không coi tôi như đứa con nít lúc nào cũng cần người lớn chăm sóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố tôi buồn, lặng lẽ vào phòng đóng cửa
Ngày hôm sau, tôi vô cùng ngạc nhiên vì tất cả bạn bè bu chung quanh tôi, chờ để được xem chiếc khăn ăn, nhưng lần này thì trống trơn, không có dòng chữ hay hình vẽ gì cả. Nhìn mặt bọn chúng thất vọng, hụt hẫng, tôi mới hiểu ra, tất cả chúng nó đều mong ước có một ai đó biểu lộ tình thương yêu ngọt ngào giống vậy đối với chúng. Lúc đó lòng tôi len lén cảm thấy vui vui, dâng lên niềm tự hào về bố. Tôi vội về làm lành với bố, và những dòng chữ, những hình vẽ yêu thương lại tiếp tục.
Những năm còn lại trong trường trung học, tôi vẫn đều đều có những chiếc khăn đặc biệt ấy. Và từ đó, tôi giữ lại, chứa trong một cái hộp riêng, giấu kín
Chưa hết, khi vào đại học, tôi phải rời xa bố, tôi nghĩ thông điệp xưa kia của bố sẽ phải chấm dứt. Nhưng tôi và bạn bè rất vui sướng vì những cử chỉ biểu lộ tình cảm của bố tôi vẫn tiếp tục qua hình thức khác.
Ở cấp đại học, dĩ nhiên không còn thấy bố tôi đứng chờ khi tan học, vì thế, tôi hay gọi điện thoại cho ông, chi phí điện thoại khá cao, nhưng không sao, tôi chỉ muốn nghe được giọng nói của ông mà thôi.
Suốt năm học đầu tiên, chúng tôi quen lối nói chuyện như thế và sau đó kéo dài một năm. Thường thì sau khi tôi nói lời tạm biệt, câu cuối cùng không bao giờ thiếu.
“Này Tammy”
Tôi thường trả lời “Dạ, gì thế bố?”
“Bố thương con nhiều.”
“Con cũng thế. I Love You!”
Hình như bố tôi nhận ra chi phí mắc mỏ cho những cuộc điện đàm, từ đó, tôi bắt đầu nhận thư mỗi thứ sáu. Ban thường trực phát thư của trường đều biết ai là người thường gửi lá thư này, mặc dù địa chỉ hồi âm luôn luôn ghi là KBC 1678. (Sau này tôi khám phá ra, KBC viết tắc là Khu Bưu Chính, địa chỉ trong quân đội ngày trước nơi bố tôi phục vụ. Còn số 1678 dễ quá, là số nhà tôi hiện tại.)
Nhiều lúc bên ngoài bì thư, địa chỉ được viết bằng bút chì và tiếp theo đó là những lá thư có hình con mèo và con chó của gia đình tôi, có vẽ những hình tháp nhiều từng, hình cây cầu nhiều nhịp in trên sóng nước. Hè năm đó, bố tôi và tôi du lịch về Việt Nam, lúc đó tôi mới biết là Chùa Một Cột, Chùa Thiên Mụ, Cầu Tràng Tiền v.v...
Sau chuyến du lịch ấy, tôi tìm hiểu về Việt nam nhiều hơn, nhất là cuộc chiến tranh trước 75, tôi bắt đầu thấy thương bố nhiều, ông là người lính bại trận, nhưng quân lực ấy đã chiến đấu dũng cảm cho tự do, cho hạnh phúc của người dân miền Nam trong suốt 20 năm. Nếu không bị đồng minh bán đứng, cuộc chiến chưa chắc ai thắng ai.
Thư đến và được phát mỗi ngày sau buổi ăn trưa. Tôi thường đi nhận thư và mang theo mỗi khi đi uống cà phê. Tôi nhận thấy chẳng cần phải giấu giếm làm gì nữa, bởi bạn cùng phòng tôi là những đứa bạn hồi còn trung học, chúng nó biết rất rõ về những chiếc bao giấy, khăn ăn. Và rồi trở thành như một tập tục, tôi đọc thư, còn bì thư và hình vẽ thì được chuyển khắp bạn bè, thư từ bố tôi thành niềm vui của cả phòng.
Trong năm cuối cùng đại học, bố tôi bị căn bịnh ung thư hành hạ. Mỗi khi tôi không nhận được thư vào ngày thứ sáu, tôi biết ông ốm nặng, không thể viết được. Ông thường thức dậy lúc 4 giờ sáng để có thể ngồi trong nhà yên tĩnh nắn nót viết những lá thư. Nếu không kịp cho đợt phát thư vào thứ sáu, thì chỉ sau đó, một hai ngày, thế nào rồi thư cũng đến. Bạn bè tôi bình bầu ông là “Người cha thương con nhất trên thế giới này!”
Ngày lễ cha, Father's Day, chúng nó gởi một tấm thiệp phong tặng ông danh hiệu đó và tất cả đều ký tên trên tấm thiệp. Tôi tin rằng ông đã dạy cho tất cả chúng tôi về tình phụ tử, bạn bè tôi bắt đầu nhận những tấm khăn ăn giống như tôi từ gia đình chúng nó, với những lời để lại ấn tượng mà sẽ thôi thúc họ hãy biểu hiện tình thương của họ với con cái sau này.
Suốt thời gian đại học, những lá thư và những cú điện thoại như một chu kỳ đều đặn.
Ngày ra trường, tôi quyết định chọn công việc làm gần nhà, để được ở cạnh bố tôi, vì căn bệnh bố càng ngày càng nặng. Thời gian được ở gần bố không còn bao nhiêu lâu nữa.
Đó là những giây phút khó khăn, đau khổ nhất cuộc đời tôi phải trải qua.
Tôi ở bên cạnh bố tôi một vài ngày trong bệnh viện trước khi ông mất. Vài giờ trước khi hấp hối, ông nắm tay tôi bảo “Bố nhờ con một điều, con về nhà lấy cho bố cái hộp gỗ mà bố để trên đầu tủ, đây là hộp chứa đựng những kỷ niệm đời lính mà bố yêu thương nhất. Bố muốn nhìn nó lại một lần.”
Tôi lái xe về nhà, và cũng tìm ra ngay chiếc hộp phủ đầy bụi thời gian. Có gì bên trong? Tôi tò mò mở nắp hộp. Mắt tôi bắt đầu cay cay nhòa lệ, khi nhìn thấy những tấm hình của bố tôi còn trẻ, trong những bộ quân phục thật oai phong. Có những tấm cầm súng đằng sau chiến trường còn bốc mùi lửa khói. Lật ra đàng sau, những ngày tháng cũ, 68, 70, 71, 72... với những địa danh xa lạ: An Lộc, Bình Long, Đồng Xoài, Khe Sanh... Dưới đáy hộp là căn cước quân nhân, giấy giải ngũ và những tấm huy chương, bộ lon gắn trên cổ áo khi ông mặc những bộ quân phục.
Bây giờ thì tôi mới hiểu hết, không còn mặc cảm hình ảnh có ông bố tàn tật chỉ biết lo việc “nội trợ”, ngược lại là đàng khác, Bố tôi đã một thời là một người lính chiến oai hùng, đổ máu hy sinh một phần thân thể mình cho một cuộc chiến đầy chính nghĩa, bảo vệ quê hương.
Rõ ràng bố tôi chăm sóc tôi, vui vẻ làm những việc của người phụ nữ bao nhiêu năm nay, chỉ vì tình thương con mà thôi. Ông thật là người cha tuyệt vời
Tôi ôm cái hộp, chạy gấp lại bệnh viện, định nói lời xin lỗi với người cha thân yêu của mình, nhưng đã trễ! Người y tá trực cho biết, bố tôi vừa trút hơi thở cuối cùng. Rồi người y tá trao cho tôi chiếc khăn giấy nhà thương, với dòng chữ cuối cùng run rẩy của một người cha dành cho con “Tammy, ba thương con nhiều! Vĩnh biệt!”
Nước mắt tôi trào ra như suối, cầm tấm khăn giấy trong tay áp vào ngực, tấm khăn giấy cuối cùng, mà cả cuộc đời mãi mãi không còn nhận được nữa.
Lúc liệm xác, tôi bỏ theo khăn giấy đã đổi màu vàng khè, nhưng tình tôi dành cho người bố càng ngày càng thấm thiết, bất diệt, muôn đời không thay đổi.

Happy Father's Day
Mừng Ngày Hiền Phụ
Hải Lê theo Angie Kucer



Thứ Hai, 14 tháng 5, 2012

văn & tôi - một thời - nguyễn đăng trình

Các anh chị em văn nghệ khác viết, nói, kể về tạp chí [giai đoạn cuối là giai phẩm] VĂN với tư cách là nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nhà phê bình... từng thành danh từ đấy. Tôi chỉ xin “phụ họa” công việc ấy với tư cách một người đọc trẻ bình thường trước 1975.
Năm 1967, tôi học đệ lục [lớp 7] tại trường trung học tư thục Bồ Đề Tuy Hòa [Phú Yên]. Phụ trách môn văn là thầy Phan Phúc Gia. Bạn thân của thầy phần lớn là các nhà văn, nhà thơ -hoặc người bản xứ hoặc dân tạm cư- của cái thành phố nhỏ xíu ra ngõ đụng nhau nhưng rất nên thơ ướt sũng không khí văn nghệ này: Trần Huyền Ân, Y Uyên, Hoàng Đình Huy Quang, Mang Viên Long... dù nó đang bị vây khổn bởi cuộc chiến ngày càng khốc liệt. Những chiều thứ bảy, những sáng chủ nhật tôi và mấy thằng bạn học khá môn văn: Nguyễn Công Trường [bút danh Nguyễn Hồ Trường], Tạ Ngọc Vân [bút danh Kinh Tự]... thường đến nhà thầy chơi chủ yếu là mượn sách báo và thi thoảng lén “ngó trộm” các ông bạn “thứ dữ” của thầy. Có lần thầy nửa đùa nửa thật: “Các cậu có muốn sau này như mấy ổng không? Họ là dân VĂN, Thời Tập, Vấn Đề..., nói chung là các tạp chí văn nghệ tầm cỡ và uy tín ở Sài Gòn cả đấy!”. Chúng tôi đồng giẫy nẫy: “Thầy giỡn hoài!”. Đơn giản là trong mắt chúng tôi lúc bấy giờ họ không phải là những con người bình thường mà là... là gì nhỉ... à... là những con người... khác thường.
Năm sau lên đệ ngũ [lớp 8], bọn tôi không đứa nào bảo đứa nào dẹp hết ba cái truyện tranh: Batman, Tề thiên đại thánh..., sách thiếu niên: Tuổi Hoa, Thằng Bờm..., kể cả truyện thiếu niên: Thằng Côn, thằng Vũ..., truyện trinh thám: Người khăn trắng, Điệp viên Z.28, truyện thần thoại: Nghìn lẻ một đêm, Ma cà rồng... cực kỳ hấp dẫn sau khi được thầy Gia “nhồi nhét” vào những Hồn Bướm mơ tiên, Trống Mái, Đoạn tuyệt, Dọc đường gió bụi... của Tự lực văn đoàn. Được thầy khuyến khích, chúng tôi vừa làm bích báo viết tay cho lớp vừa “thực hiện” những tuyển tập thơ văn quay ronéo chung cho cả khối. Không phải làm để mấy đứa cùng lớp đọc khơi khơi đâu nha. Bán sòng phẳng đấy. Lại không phải chỉ phổ biến trong trường mà còn bày đặt “phát hành” đến các trường khác nữa mới ngon [ngông] chứ!
Đây cũng là thời điểm thầy Phan Phúc Gia “làm mai” chúng tôi với các tạp chí, tập san văn nghệ tầm cỡ xuất bản tại thủ đô Sài Gòn như: Phổ Thông, Thời nay, Văn, Văn Học, Vấn đề, Bách Khoa... Tôi đột nhiên vùng biến thành Phù đổng thiên vương để đến với các tạp chí văn nghệ Sài Gòn, đặc biệt là VĂN từ đó. Cho dù với kiến thức non nớt của một học sinh trung học đệ nhất cấp không thể nắm bắt hết cái hay, cái đẹp, cái cao xa, cái mênh mông... của văn-chương-tạp-chí-văn, nhưng cứ đến ngày 1 và 15 hàng tháng tôi đều mua về chủ yếu là để sưu tập hơn là để đọc đúng với ý nghĩa của từ này. Và để có một collection đầy đủ từ số đầu tiên tôi đã phải gửi ngân phiếu vào nhà phát hành Nam Cường tít tận Sài Gòn.
Xong đệ ngũ, tôi rời thành phố Tuy Hòa để ra Phù Cát [Bình Định] sum họp với ba má và các em. Ngày đi quên gì thì quên nhưng tôi không thể quên ký củm bộ sưu tập tạp chí VĂN và cái Stamp Album “gia bảo” được.
1969 tôi học đệ tứ [lớp 9] trường trung học Thánh Giuse Phù Cát. Quận lỵ quá nhỏ hay sao mà Văn không về tới. Tôi phải đặt tiền trước nhờ chủ một sạp báo mua giùm từ đại lý phát hành ở Qui Nhơn bộ sưu tập mới không bi lõm. Vừa học tôi vừa nhấm nháp VĂN vừa thầm mơ cái ngày rọc tạp chí ra bỗng thấy tên mình “chễm chệ” bên những Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, Phạm Thiên Thư, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Nhật Tiến, Huỳnh Hữu Ủy, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, Du Tử Lê, Duyên Anh, Trần Dzạ Từ, Cao Tần, Hà Thúc Sinh, Luân Hoán, Nhã Ca, Trùng Dương, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị Ngh., Nguyễn Thị Ngọc Minh [Minh Ngọc], Dương Nghiễm Mậu, Trần Hoài Thư, Ngụy Ngữ, Mường Mán, Hoàng Đình Huy Quang, Hoàng Ngọc Châu, Nguyễn Lệ Uyên, Nguyễn Lệ Tuân, Phạm Cao Hoàng, Tần Hoài Dạ Vũ, Mang Viên Long, Phạm Ngọc Lư, Nguyễn Thanh Trịnh [Đoàn Thạch Biền], Huỳnh Hữu Võ, Từ Thế Mộng, Nguyễn Như Mây, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Dzạ Lữ, Phạm Chu Sa, Hà Nguyên Dũng, Đặng Tấn Tới, Nguyễn Tôn Nhan, Huy Tưởng, Khê Kinh Kha, Tô Đình Sự, Kinh Dương Vương, Thái Ngọc San, Nguyễn Miên Thảo, Thái Tú Hạp, Triều Uyên Phượng, Lương Thái Sỹ, Y Uyên, Thế Uyên, Doãn Dân, Ninh Chữ, Kim Tuấn, Cao Thoại Châu, Hạc Thành Hoa, Tô Nhược Châu, ... và... không sao kể hết [nếu thiếu vị nào người viết xin được bỏ qua]. Năm cuối cấp bao giờ bài vở cũng nhiều hơn và khó dần lên. Thời gian dành cho VĂN nói riêng và sách báo nói chung không nhiều được nữa! Nỗi lo “rớt tú tài anh đi trung sĩ” đã trở thành câu nói không phải để chơi!...
Chiến tranh mỗi ngày mỗi phình to. Bộ mặt hung hiểm gớm ghiếc của nó rõ dần. Tôi bắt đầu nghĩ về cái ngày nhập cuộc.
Xong đệ tứ [lớp 9] tôi thi vào Trung Học Cường Đễ Qui Nhơn để lấy lại cơ hội học trường công lập mà tôi đã bỏ lỡ hồi 1965 trong kỳ thi vào lớp đệ thất vì phải bỏ ngang năm lớp nhì [lớp 4 bây giờ] sau chính biến 1963 phải lìa xa Quảng Ngãi hành phương nam.
Đậu vào đệ tam [lớp 10] ban C tôi vào Qui Nhơn trọ học. Trong rất nhiều niềm vui mới có niềm vui trực tiếp sưu tập VĂN. Ở những thành phố lớn nhỏ khắp miền Nam, VĂN hầu như không bao giờ vắng mặt cho dù chiến sự có lúc làm gián đoạn hành trình đường bộ của nó.
Cách chơi nổi của cánh nam sinh đệ nhị cấp ôm ấp mộng tưởng trở thành văn thi sĩ lúc bấy giờ là cầm trên tay một tập thơ, một tập truyện, một cuốn sách triết... che đầu ngày mấy bận đi, về trên phố làm như không có cái từ ngượng nghịu trên đời. Tôi và các “chiến hữu” trong nhóm Bằng Hữu như Du Thọai Miên, Hiếu Thư, Hàn Lệ Châu, Kao Kung Kiện, Thái Nhơn.... chọn VĂN. Giờ nghĩ lại tôi thấy hình ảnh ấy thật đáng yêu mà cũng thật buồn cười.
Do thiếu sĩ số Cường Đễ không thể mở lớp 10C nên tôi phải học 10B. Không cam lòng, lên lớp 11 tôi gặp thầy giám học Nguyễn Mộng Giác xin chuyển ra Trần Quốc Tuấn Quảng Ngãi. Sau khi nghe tôi nêu nguyện vọng, thầy OK ngay vì thầy chẳng phải là dân tạp chí Bách Khoa, VĂN... đó sao?
Mùa Đông Quảng Ngãi mưa bão dầm dề, âm u, lạnh lẽo và buồn buồn không thua gì mùa đông Bình Định. Ngày đầu tiên đặt chân đến thành phố quê hương vừa thân thương vừa xa lạ của mình, tôi co ro trong chiếc manteau màu đen, một tay cầm chiếc dù cũng màu đen một tay cầm cuốn VĂN vừa mua ở hiệu sách Đồi Non Hoa Sen, lòng vòng qua các con phố thưa người và xe cộ giống một diễn viên quảng cáo hơn là một học sinh “chuẩn tú tài”!
Nhờ cái vẻ kênh kiệu có phần ngỗ ngáo ấy mà chỉ ít lâu sau tôi thân thiết với mấy gã môn đồ của VĂN như Huyền Huyễn Thạch, Nguyễn Thiện Tường, Bùi Nhật Úy... Không chừng cánh Dương Thành Vinh, Bùi Văn Cang, Lý Văn Hiền, Từ Nguyên Thạch, Đoàn Vị Thượng, Trần Trọng Uyên, Trần Quang Châu, Nguyễn Tấn Cứ... cũng rứa rứa thôi?! Quái quỷ hơn cái bệnh khoe mẽ này cũng không chịu buông tha phái nữ mà các nạn nhân điển hình là nhóm Trần Thị Triều Dương, Thanh Thanh, Trần Thị Cổ Tích, Trương Thị Kim Chi, Nguyễn Thúy Ái...
Quảng Ngãi đang là vương quốc của tạp chí Trước Mặt do nhóm đàn anh: Phan Nhự Thức, Hà Nguyên Thạch, Luân Hoán, Lâm Anh, Vũ Hồ, Phạm Cung, Nghiêu Đề... chủ trương và thực hiện, nhưng xem ra lớp trẻ yêu VĂN luôn chiếm số đông. Và tôi vẫn thường xuyên có cảm giác thầy Huỳnh Châm, giáo sư dạy văn kiêm chủ nhiệm lớp 11C, dành cho thằng học trò chân ướt chân ráo từ Qui Nhơn mới ra mà học hành ở lớp “không đàng hoàng cho lắm” [chỉ ở lớp thôi] ít nhiều thiện cảm vì hắn hay nhét cuốn VĂN sau túi quần mỗi khi đến lớp.
Xong tú tài phần 1 ban C, tôi trở vào Cường Đễ Qui Nhơn tiếp tục năm 12 ban A. Lại gặp thầy Nguyễn Mộng Giác. Không phải là giám học hoặc hiệu trưởng nữa mà là giám đốc sở học chánh. Nhiệm sở mới của thầy không đâu xa, nằm gần như đối diện cổng trường Cường Đễ và là nơi gặp gỡ thường xuyên của các nhà văn, nhà thơ Qui Nhơn đều đặn có mặt trên VĂN: Lữ Quỳnh, Phạm Chu Sa, Võ Chân Cửu, Nam Chữ [Phạm Mạnh Hiên], Hồ Ngạc Ngữ... và các văn nghệ sĩ tên tuổi từ các thành phố khác ghé chơi .Một lần tôi tạt vào thăm thầy Nguyễn Mộng Giác bất ngờ gặp một bàn nhậu với vài ba nhân vật lạ mặt đang tranh luận về Nhất Linh. Phản xạ tự nhiên buộc tôi “đằng sau quay” theo cách vừa thụ huấn trong chương trình quân sự học đường. Có tiếng gọi của thầy Giác. Dĩ nhiên tôi không thể “đằng trước bước”. Theo lời giới thiệu trang trọng của thầy, tôi “hân hạnh và vinh dự” lần lượt được nhà văn Mai Thảo, nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, thầy Phan Châu Thuận... bắt tay. Nhìn cuốn VĂN “bất ly tay” mỗi khi ra khỏi nhà trên tay tôi, cả hai nhà văn Sài Gòn không mấy bất ngờ nhưng hẳn là khá thú vị. Kéo tay tôi, thầy Giác ngắn gọn: “Nguyễn Đăng Trình. Rất máu làm báo. Thơ đọc được”. Câu chuyện lại rôm rả. Ngồi làm khách mời “bất đắc dĩ” kể cũng... quê quê. Thấy chai Hennesy đang vơi quá nửa, vả lại có lý do gì đâu để tiện ngồi lâu, tôi đứng lên chào tạm biệt sau khi góp một câu duy nhất, đại khái là: “Nếu Nhất Linh đợi đến hôm nay thì có lẽ ông sẽ không tự vẫn. Em nghĩ và tin như thế”. Ra giữa sân tai tôi nghe một giọng Bắc ném theo: “Thằng này khá!”. Sau đó là vài tiếng cười...
Năm lớp 11 tôi học bao nhiêu thì năm 12 tôi chơi bấy nhiêu. Mảnh bằng tú tài 2 đối với tôi không chút xíu quan trọng nào nữa. Trong đầu tôi luôn lỡn vỡn hai chữ Thủ Đức. Không phải nỗi ám ảnh mà là tiếng gọi.
Một buổi chiều rượu bụi với anh Mịch La Phong và anh em nhóm Bằng Hữu, chân nọ xọ chân kia, tôi lết về nhà trọ 142 Trần Quý Cáp. “Trên đường về nhớ đầy... Chiều chậm đưa chân ngày... Tiếng buồn vang trong mây...”. Giọng ca khá truyền cảm quen thuộc của nhà văn Đặng Hòa [cũng chính là nhà thơ Nguyễn Thị Thùy Mị đã xuất hiện trên VĂN từ những số đầu tiên] làm tôi sững sờ rồi tỉnh hẳn. Ngay cửa lớn, anh nhìn tôi như nhìn một vật lạ... Và ánh mắt anh chợt dịu lại khi chạm vào cuốn VĂN và cuốn Tiền Phong vừa cẩu thả vừa ngạo nghễ trên hai túi áo ngực của tôi. Cả hai vào nhà không một lời. Tôi và anh ở chung, kẻ trên gác người dưới nhà, khá lâu nhưng chưa thân tình vì vài lý do rất riêng tư. Nhưng không thể không biết về nhau tí tí. Lát sau có tiếng anh gọi. Tôi nửa muốn lên nửa muốn không. Cuối cùng thì tôi ngồi đối diện anh. Chính giữa là cây đèn tọa. [Anh không thích đèn điện!]. “Thủ Đức rồi “con”!”. “Sao anh biết hay vậy?”. “Mày bây giờ là tao mấy năm về trước. Vừa khoái làm nhà văn vừa khoái làm người hùng!”. “Đâu có tệ, anh”. “Tệ quá đi ấy chứ”. “Đậu Đà Lạt, rớt Thủ Đức. Em đã chọn”. “Đà Lạt hay Thủ Đức gì gì thì cũng đừng để giống cái tay này của tao”. Anh chỉ vào cánh tay từ lâu quên mất cái chức năng của nó. Hóa ra ngoài chức danh giáo sư trường Lasan, anh còn là trung úy thương phế binh Biệt Động Quân. Anh đang nghiện cocain nặng nên đã đình bản tạp chí Nhìn Mặt, niềm đam mê cũng là nỗi hệ lụy của anh. Giờ muốn tục bản nhưng lực bất tòng tâm! “Em khoái Phan Nhật Nam, Trần Hoài Thư”. “Tao nghĩ mày sẽ dư sức làm được”. “Tại sao?”. “Đơn giản là vừa đọc VĂN vừa đọc Tiền Phong”. Anh em thân nhau từ đó. Thân đến nỗi nhiều lần tôi liều mạng ra Lê Lợi mua cocain về đích thân tiêm vào tĩnh mạch cho anh mỗi khi anh lên cơn nghiện mà không nhấc người lên được. Sau đó anh giao chìa khóa tủ đựng bản thảo và bài lai cảo của tạp chí Nhìn Mặt để tôi tuyển đọc trước khi anh đủ sức gượng dậy vực lại đứa con tinh thần vừa làm anh hứng khởi vừa khiến anh bầm dập. Với đống bản thảo cao cả mét ấy tôi đã “gặp” hầu hết những tên tuổi vốn thành danh từ VĂN: Thái Ngọc San, Lương Thái Sỹ, Ngụy Ngữ, Mường Mán, Khê Kinh Kha, Dương Kiền, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Hoài Thư, ... Nhưng anh đã bỏ lại tất cả sau một cơn sốc cocain vào một ngày của năm 1973!
Đậu tú tài 2 tôi không Đà Lạt hay Thủ Đức như đã nói mà vào Đại Học Văn Khoa Sài Gòn để nếm thử mùi giảng đường cho biết, nhưng chủ yếu là chờ Không quân tuyển mộ pilot. Một dạo tôi ra đầu cầu xa lộ phía Thủ Đức dựng cái chòi nho nhỏ làm chỗ vá xe Honda để kiếm thêm tiền ăn học. Vẫn kè kè cuốn VĂN bên mình để lẫm rẫm những lúc rãnh tay. Hôm nọ, khoảng 7 giờ sáng có cặp vợ chồng đẩy xe vào vá. Trong lúc tôi đang lui cui nạy vỏ thì anh chồng táy máy cầm cuốn VĂN lật lật rồi nhìn chị vợ nháy nháy mắt. Tôi bất chợt ngước nhìn lên đôi kính cận kiểu John Lenon, buột miệng: “Anh là Nguyễn Đình Toàn?”. Thoáng chút ngạc nhiên pha lẫn chút thích thú, anh chồng cười cười với chị vợ: “Em ơi! Cậu này bảo anh là Nguyễn Đình Toàn!”. Rồi cả hai phá lên cười thay cho một xác nhận. Từ đó thỉnh thoảng tôi vào làng báo chí thăm anh chị Nguyễn Đình Toàn nhưng hoàn toàn không đá động gì đến chuyện văn chương.
Cuối cùng tôi vào Thủ Đức thật vì hầu như toàn bộ sinh viên sĩ quan pilot đang học bay ở Mỹ hoặc đang chờ go oversea đều bị trả về thụ huấn chương trình sĩ quan bộ binh. Thời gian này ở quân trường tôi không đọc gì ngoài binh thư, binh pháp... Định bụng sau khi ra trường về đơn vị sẽ tiếp tục bổ sung bộ sưu tập cho đầy đủ và sẽ điền tên mình vào danh sách cộng tác viên của VĂN như các nhà thơ nhà văn đồng thời hơn kém tôi vài ba tuổi: Phù Hư, Nguyễn Lương Vỵ, Nam Chữ [Phạm Mạnh Hiên], Hồ Ngạc Ngữ, Võ Chân Cửu, Nguyễn Nhật Ánh...
Ngày 30/3/1975, Bình Định di tản chiến thuật!... Ngày 30/4/1975 Nam Việt Nam bại trận !... Có quá nhiều thứ để tiếc đứt ruột nhưng nếu bảo rằng tôi không suýt soa về bộ sưu tập VĂN từ số đầu tiên đến số gần cuối cùng là tôi tự dối lòng, mặc dù không phải những gì được đăng tải trên VĂN đều super như một số khá đông anh chị em đã mạnh miệng xưng tụng bấy lâu nay khi viết, nói hoặc kể về tạp chí gần như huyền thoại này. Hiểu biết rất khiêm tốn về nhà văn Trần Phong Giao, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, nhà văn Mai Thảo qua tác phẩm và càng mù tịt về chủ nhiệm Nguyễn Đình Vượng, nhưng tôi thật sự cảm phục và kính trọng cái tâm đối với nền văn học miền Nam của họ. Giả dụ nếu VĂN tồn tại đến bây giờ thì bộ sưu tập của tôi chắc chắn sẽ không thiếu một số nào.../