Hiển thị các bài đăng có nhãn thưởng ngoạn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thưởng ngoạn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012

cảm nhận bài thơ "Đành nhớ nhau tàn bạo" của nguyễn đăng trình



biết rồi em cũng sẽ về thôi
sao trái tim vẫn chực òa tiếng nấc
vẫn y chang ngày xưa nào lâu lắc
tay run run níu chín tháng học trò

những nụ cười trên gương mặt buồn xo
không vui nổi ánh nhìn thảm đạm
già chát cả đâu mười lăm mười tám
sợ môi buông đánh rớt nụ hôn đầu

đang giữa hè mà nắng phai mau
 mặt trời ngã nhào không kịp thấy
những tàn phượng dậy thì vô tư cháy
vẫn không làm bớt lạnh những sân ga

ngày ác thế mà đêm cũng thật là
trôi đuồn đuột chiếu giường chưa kịp ấm
nồng đến vậy tình vẫn không đủ thắm
vòng tay lơi theo từng giọt bình minh

thần lứa đôi không ngó nghĩ mình
chơi khăm mãi trò trốn tìm nam bắc
nẻo em về khói mây giăng bàng bạc 
đành nhớ nhau tàn bạo trước khi xa!...
 sài gòn 16.6.1

nguyễn tiết

Lại được đọc một bài thơ hay theo kiểu NĐT. Những câu thơ không điệu đàng làm dáng nhưng đã tự nhiên đi vào lòng người như để cùng hòa vào hạnh phúc và đau khổ của kiếp người trong cõi nhân gian này.

biết rồi em cũng sẽ về thôi
sao trái tim vẫn chực òa tiếng nấc
vẫn y chang ngày xưa nào lâu lắc
tay run run níu chín tháng học trò


Vâng anh biết rồi, em sẽ phải về thôi, ta sẽ phải xa nhau thôi. Vậy mà đôi tay sao cứ hoài bịn rịn, cứ run run theo tiếng nấc, theo nhịp đập của trái tim đang chực vỡ òa. Cái cảm giác bồi hồi xao xuyến sao "vẫn y chang ngày xưa nào lâu lắc", cái thuở yêu nhau với tuổi học trò thơ dại không muốn rời xa. Tác giả đã dùng từ "y chang" có lẽ muốn khẳng định rằng dù năm tháng đã qua nhưng tình yêu tác giả dành cho nàng không bao giờ thay đổi. Và có cuộc chia tay nào không lưu luyến buồn thương. Buồn lắm nhưng cũng cố gượng cười nhưng dù có cố vẫn không dấu được nỗi buồn sâu thẳm từ trong lòng hiện rõ trên gương mặt "buồn xo", ẩn trong đôi mắt với ánh nhìn mang nét buồn xa xăm dịu vợi. Thời gian đã làm mái tóc pha sương không xanh như thuở mười lăm mười tám. Sao không trao cho nhau nụ hôn nồng say ở cái tuổi "già chát" này để tìm lại hương vị nụ hôn đầu mà thuở dại khờ đã đánh mất giữa đời nhau. Ở đây tác giả dùng từ "già chát" để nói

lên sự tiếc nuối tuổi xuân chăng?
những nụ cười trên gương mặt buồn xo
không vui nổi ánh nhìn thảm đạm
già chát cả đâu mười lăm mười tám
sợ môi buông đánh rớt nụ hôn đầu


Thế đó, em có biết không, tình yêu chân thành của trái tim anh luôn sống mãi với thời gian. Vậy mà anh lại loay hoay với những câu hỏi mà chẳng có câu trả lời.

đang giữa hè mà nắng phai mau
xô mặt trời ngã nhào không kịp thấy
những tàn phượng dậy thì vô tư cháy
vẫn không làm bớt lạnh những sân ga

Những câu hỏi làm ray rứt trái tim, hỏi ai hay hỏi chính lòng mình. Sao mùa hè mà nắng lại mau phai, ai xô mặt trời "ngã nhào" để ngày vội thành đêm tối, để sân ga không bớt lạnh lúc tiễn đưa người! Mặt trời "ngã nhào" hay hồn anh ngã quỵ khi biết rằng chút nữa đây anh đã thật sự xa em rồi. Tác giả đã dùng hai cụm từ đối lập nhau "mặt trời ngã nhào" và "tàn phượng dậy thì" có lẽ muốn khẳng định em là lẽ sống đời anh, không có ai thay thế được em trong trái tim anh, không có em lòng anh như đêm tối? Trong cái khắc khoải của sự cô đơn tột cùng đó tác giả không biết trách ai nên đành trách ngày, trách đêm vậy.

ngày ác thế mà đêm cũng thật là
trôi đuồn đuột chiếu giường chưa kịp ấm
nồng đến vậy tình vẫn không đủ thắm
vòng tay lơi theo từng giọt bình minh


Tình yêu anh dành cho em tha thiết thế, nồng nàn thế mà sao vẫn chưa đủ thắm để ôm trọn trái tim người. Đã để những yêu thương mặn nồng trôi tuột khỏi vòng tay. Ở đây tác giả lại dùng cụm từ "trôi đuồn đuột" như muốn nói lên sự thất vọng, sự bất lực trước sự đỗ vỡ như một quy luật tự nhiên hết ngày lại đến đêm, hết hợp rồi tan chăng? Khi cõi lòng đang rối bời, tác giả lại thầm trách Ông Tơ Bà Nguyệt là hai vị thần lứa đôi đã không thương xót ngó nghĩ đến mình. Lại chia uyên rẽ thúy, bắt anh và em suốt đời cứ mãi chơi trò trốn tìm người nam kẻ bắc. Làm sao anh được gặp lại em, khi "chim bay biển bắc, anh tìm biển nam".

thần lứa đôi không ngó nghĩ mình
chơi khăm mãi trò trốn tìm nam bắc
nẻo em về khói mây giăng bàng bạc
đành nhớ nhau tàn bạo trước khi xa!...

Thật mỉa mai, thật nực cười,anh có tội tình chi mà đời hành anh đến vậy. Ngày ác với những đợi chờ, đêm ác với những nhớ thương tiếc nuối những giây phút mặn nồng, thần lứa đôi ganh ghét gì mà không thương tình, không ngó nghĩ đến để chúng mình mãi mãi xa nhau. Thôi đành lòng vậy... Trước khi em về nẻo ấy không anh, nơi chỉ có mây giăng bàng bạc thì ta hãy dành trọn cho nhau hôm nay, hãy yêu nhau, hãy cho nhau hết những gì có thể để mai kia ta vẫn mỉm cười, nụ cười mãn nguyện với ngập tràn hạnh phúc mỗi khi nghĩ, mỗi khi nhớ về nhau.
NT chưa đọc nhiều thơ của NĐT nhưng qua những bài đã được đọc, NT có cảm nhận thơ của NĐT mang dáng vẻ như tưng tửng, như có, như không, lãng đãng như khói sương nhưng cũng rất gần gũi, rất thực như đời, nhưng trong sâu thẳm trong đó lại là yêu say đắm, là dâng hiến, là bao dung, là nhớ "tàn bạo" đến không ngờ và với bài thơ này như Huỳnh Ngọc Tín đã cảm nhận "Bài thơ hay lắm! Cả bài thơ hay đến từng câu chữ, không thiếu, không thừa, nó như ngấm sâu vào tâm tư người đọc".
     Qui Nhơn 24.12.2012

 khảo mai
* ngẫu họa bài thơ "Đành nhớ nhau tàn bạo" của nguyễn đăng trình

biết khủng khiếp nhớ nhau

Sao anh biết tận tường em thế
biết là em rồi cũng sẽ về
vẫn không khác ngày xưa mới đó
Vẫn thòm thèm thuở áo dài xa

Mắt thôi lanh môi cười khô úa
má phai hồng vết xạm thời gian
khóe môi hằn em cố cười tươi
sợ chân chim che khuất hẹn hò

Gió se se heo may vội vã
trời sắp đông mây thấp xuống gần
chiều dần buông mặt trời trốn sớm
ga lạnh buồn thêm buốt những tình nhân

Ngày qua nhanh đêm chừng hấp tấp
mới thấy đó rồi trôi đi đó
tình vừa khêu đêm chưa bừng cháy
nhúm tro buồn lạnh lẽo đón ngày lên

Thần lứa đôi vô tình quên ngó
để đôi mình kẻ bắc người nam
đường em về một mình vò võ
ga vắng đợi chờ biết khủng khiếp nhớ nhau...
                                    Sai Gon 24/11/2012


 


Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

tiếng chuông gió mùa hè

mang viên long - vài cảm nhận về tập thơ của cao văn tam


… Tập thơ chia làm hai phần như sự tự phân định biên giới của dòng cảm xúc, của giai đoạn sáng tạo – nhưng thật ra, cũng chỉ là một: Nó xuyên suốt từ “Lời Hạnh Phúc” (bài số 1 trong “Uống Cạn Đìu Hiu” – phần I) cho đến “Ô Cửa Mùa Xuân” (bài số 60 trong “Tiếng Chuông Gió Mùa Hè” - phần 2) như con suối xanh ngắt một màu của trời mây và của đời sống!
Dòng suối trôi chảy miên mật theo thời gian, theo từng ghềnh thác gập ghềnh sâu khuất hay êm đềm giữa dòng xanh – như bao ni thăng trầm hệ lụy của đời sống cùng n lực kiếm tìm cho Thơ một sức sống mới, một thể hiện lạ, để có thể làm tốt nhất cái thiêng chức của Thơ là truyền đạt cao nhất mọi xúc cảm chân thành của Trái Tim, mọi tư duy ần tàng trước đời sống đến với người đọc:
Từ cái mênh man mầu nhiệm của Tình Yêu:
“Lời nào như huyễn hoăc
                 tự dưng ta có nhau
                 phiến đã tròn xanh mộng
                 cạn đi chén ngàn sau…”
(Lời Hạnh Phúc)
Đến sự hiện hữu của Tình Yêu :
" … Bây giờ là mùa Xuân
                   sóng sánh trên cầu treo Kon- Klor
                   nối đôi bờ lồi lỡ
                 (nếu không có ánh nắng mặt trời mùa xuân sẽ
                                                 không còn rực rỡ)
                    Như tình yêu của anh và em
                    sẽ không có không khí sắc nhọn và lạnh
                    treo vào ô cửa
                    mùa xuân…"
      (Ô Cửa Mùa Xuân)
            Tôi đã được đọc Thơ Cao Văn Tam từ những năm cuối của thập kỷ trước và 60 bài trong tập Thơ hôm nay – cảm nhận vẫn nguyên vẹn một niềm tin ở Thơ anh – rằng, mỗi chặng đường đi tới với Thi Ca – Cao Văn Tam vẫn không ngừng nuôi dưỡng sức sáng tạo được trải nghiệm rất đáng được trân trọng và hy vọng, giữa bao "tự phong nhân danh thơ" để làm hoen ố Thơ như hôm nay cho dầu được che đậy, hay phủ đầy những vòng hoa ngụy tín!"
Quê nhà, tháng 9 năm 2012
 ________

vài hình ảnh buổi ra mắt tập thơ tại Sài Gòn


Thứ Hai, 17 tháng 9, 2012

tìm hiểu thơ “Có Thể” của đoàn minh châu - khổng đức

             

 
                  Từ trước tới giờ tôi vẫn tuân thủ theo Wallace Stevens “Người đọc thơ là người hành hương, xuất phát lên đường, giãi bày” (The reader of poetry is a kind of pelgrim setting out, setting forth). Thế nhưng đối với tập thơ “Có Thể” chỉ có 31 bài với số lượng mỏng manh 40 trang khổ 13 x 20, mà tôi phải nghiền ngẫm khá lâu khổ sở hơn cả người hành hương. Vì tôi quan niệm thưởng ngọan không phải đơn thuần hưởng thụ mà coi đó như là sự tiếp thụ thẩm mỹ, tự thân phải tiến nhập vào tác phẩm để tìm hiểu tính nội tại trong đó. Nói một cách khác, là chúng tôi phải dấn thân tham dự vào tác phẩm như một tác giả thứ hai, tình cảm cũng phải đắm đuối cuồng nhiệt, cũng vui buồn thương ghét tha thiết mới mong đạt được sự thể nghiệm sâu xa về chân lý tồn tại. Nói đến chân lý là các bạn nghĩ ngay đến cái gì cao xa, thật ra theo chủ nghĩa hiên thực nó chỉ là “sự thực ở trong lí tính”; như vậy bản thân nghệ thuật chỉ là kĩ xảo, thứ kĩ xảo trình hiện sự thật lí tính.      
                   Cũng có thể do tuổi tác của tôi đã quá gần đất xa trời nên thành lú lẫn, có những nhận định về thơ Có Thể hơi khác thường, do đó mà có bài nhận xét này viết ra với tính cách “vấn nạn” gởi thẳng cho tác giả và những bạn chí thân để thăm dò… Tuy nhiên cũng còn chút tự ái, nên đồng thời cũng để biện hộ cho những khờ khạo ngốc nghếch của mình, ngoài việc trình bày những câu thơ của tác giả minh chứng, tôi còn áp dụng hình thức cắt dán (montage) những ý kiến của các triết gia, học giả, các nhà mỹ học tiếng tăm của thế giới như Heideigger, J.P.Sartre, Merleau-Ponty, Gadamer, A. Badiou, E.Morin, J.M. Maulpoix, v.v… không chừng cũng là điên cả, vì minh triết và điên cuồng cũng là một lò.
                   Nhưng thôi hãy như Samuel Beckett “càng nói lắm càng thêm ngược ngạo”, mà nên đi vào vấn đề chính yếu là Thơ, giờ hãy nói về những bài thơ Nắng… Và trước khi đi vào viêc tìm hiểu nội dung những bài thơ  trong tập Có Thể, tưởng chúng ta cũng nên nắm vững cái nguyên lí này của Gadamer viết trong tập khảo cứu về mỹ học quan trọng là “Chân lí và phương  pháp” (Truth and Method):
                   “Sứ mệnh của nghệ thuật không phải là biểu hiện lại cái lí tưởng thiên nhiên – mà chính là phát hiện cái tự ngã của mình trong thiên nhiên và trong thế giới lịch sử. Nghệ thuật là một phương thức nhận thức độc đáo, là phương thức nhận thức chân lí, thứ chân lí truyền đạt đồng nghĩa với sự tồn tại. Ý nghĩa của nghệ thuật là dựa vào nó mà chúng ta nói lên cái gì là sự thật; con người có thể đối diện với tự thân trong nghệ thuật, vì nghệ thuật là vùng đất trời để tâm linh con người hoạt động tự do”.
                    Có như thế chúng ta mới hiểu được ý nghĩa “Nơi mùa hạ đi qua”, cũng như những bài khác. Mùa hạ ở đây là mùa của khô hạn, nắng nung, đầy tai họa khốn khổ, thứ thần quyền của ác ôn, chứ không phải là thần Thái dương hiền hòa, là nguồn ánh sáng tạo ra sự sống. “Mùa hạ không mang dấu vết”, đây không phải là hiện tượng của hư không, mà dấu vết phải hiểu như là dấu ấn là tiêu biểu cho không có gì là sở hữu; “nằm mơ trên bàn tay trống trơn” là không có gì cả. Thế nhưng lại đầy uy quyền ngự trị hay khống chế tất cả, nên khi mùa hạ đi qua thì cả không gian và thời gian chìm trong bầu khí oi nồng nóng bức…
                    “khi cánh cửa mở ra” cánh cửa có thể hiểu là cửa của một thành phố hay một quốc gia. Mở ra nếu dịch ra Hoa Việt thì đó là khai phóng, chữ Khai lại là bộ môn, nên câu “cánh cửa mở ra” có lắm ý, hiểu thế nào mà chả được. Có điều gió vào phòng lắng nghe cây xương rồng sắp chết, một loại cây sanh sống ở sa mạc mà cũng không chịu nổi sức nóng nung của nắng hạ.
                    Nhà thơ hay vận dụng ngôn ngữ một cách táo bạo không sao nói được, nó xoay trớ ngôn ngữ sao cho vừa vặn thích hợp. Từ ngữ với họ không còn là phù hiệu ch đạo, mà đúng hơn là sự bày tó đặc biệt chính xác cúa cái đẹp gắn liền với sự mất quyền sở hữu và ngay c với việc bất an (Maulpoix).
                  k câu chuyện về một mùa hè trĩu mệt
                  “trong hơi thớ rã mục cúa đêm mất ngú - “đôi chân mang nỗi buồn cúa trái tim
                    như một trưa tháng by
                   Nhà thơ chống lại sự khó nói bằng sự đa nghĩa, đưa tư tưởng thâm nhập vào cơ thế tưởng tượng “đôi chân mang nỗi buồn của trái tim, bước đi vô định trong mùa nắng cháy”.
                   Hay nói một cách khác, thơ là khép kín. Sức mạnh của nó là sự mặc khải quyện lấy xung quanh một ẩn ngữ - thành thử cái điểm của ẩn ngữ ấy tạo ra tất cả thực tại bất lực cúa  sức mạnh chân lí. Trong ý nghĩa này cái kì bí của văn tự thành một mệnh lệnh chính; nên không lạ khi Mallarme duy trì ý tưởng “luôn luôn phải có ẩn ngữ trong thi ca”. Do đó chúng ta phải hiểu những từ “mùa hạ trĩu mệt, hơi thở rã mục, bước vô định, mùa nắng cháy…” bằng tính thực chất sâu xa ở phía sau nó – là cả một thời đại, một kiếp sống đầy khắc nghiệt:chỉ còn mơ về  giấc mơ sắp tới
                            mắt cay xè
                   tỉ mẩn gom trong giọt nước buồn tênh ngày hạn
                   còn giọt hiếm hoi nào chảy trên mặt đất
                    có sống hay cảm thông những giây phút đáng thương đó chúng ta mới thấm thía với sa mạc ý nghĩ của tác giả “ta hóa thành loài xương rồng xanh, mọc lên trong giấc mơ đầy bụi”.
                   Theo chúng tôi, mỗi từ ấy ngoài tính ẩn ngữ còn là một niềm đau tha thiết… để viết tiếp về nỗi buồn “Tháng sáu” cũng là mùa hè… theo lịch là cuối hạ, nhưng với VN nhất là miền trung và bắc là đi vào mùa nắng gắt. “nắng đã dày… thêm lên thành oi bức khó thở, nhưng đáng buồn là cả vấn đề nặng trĩu suy tư. Mùa không còn là mùa của không gian thời gian, mà là mùa của hoàn cảnh của thời thế, mùa của con người ngự trị lắm phiền hà, hay có mưa dông là sấm sét uy quyền. Nói như Heideigger, làm cho con người lo lắng ưu phiền, sợ hãi. Khi thành phố trắng xóa mưa chiều, mưa đây không phải là mưa móc của ân huệ mà là tàn phá xóa sạch bụi bặm của cuộc đời con người.
                   Niềm tin yêu đã không còn, và cuộc sống như người thua cuộc buông tay đầy chán chường… Chân có bước đi như chưa bao giờ tới “chán chường ủ mục dấu chân” (Đi), hay mang nặng nỗi buồn của trái tim như trưa tháng bảy (nơi mùa hạ đi qua). Tuy nhiên hãy nhẫn nhục mà tiếp nhận dù ngang trái quằn quại, lâu rồi cũng thành thói quen, coi cuộc đời như chiếc lá khô ngoài cửa tự đốt dần mòn.
                   Xanh ngày hay ngày xanh còn lâu mới tới, ngày của ước vọng đợi chờ… Tháng sáu mưa hiếm hoi nắng hạn khó có mưa là chuyện của thiên nhiên, nhưng mưa ở đây là mưa của con người, của uy quyền ban bố chỉ dành cho một giai tầng nào đó thôi. Lại đặt niềm tin vào số phận, vào định mệnh… tạo hóa hư không…
                  “lẽ nào  trời đất quên nhau”  vẫn còn quy luật của âm dương, của nhân quả, đời luôn luôn biến thiên, là vẫn còn hi vọng, còn đợi chờ… biết bao kẻ đã ra đi….
                   Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật, kể cả thơ, là cảnh giới tư tưởng, chứ không phải là thủ pháp biểu hiện; nói thế chứ thủ pháp (tức kĩ thuật) cũng rất cần là phải vận dụng sao thật kín đáo mà vẫn thể hiện được chân lí, bài “Đi” là tiêu biểu. Nắng tháng bảy, nắng chói chan, nắng lóa mắt, làm mất cả phương hướng
                   nắng lộng trên đầu – phố nhão dưới chân Nắng bao trùm cơ thể nên phải Đi thôi. Đi như chảy
                   Như mỗi bước rữa tan vào đất Làm tôi không sao quên được câu thơ của đứa em vụng về, mỗi lần gặp nó là tôi như muốn khóc, tiếc rằng “tuổi già hạt lệ như sương”:
                   Phương nam tràn cả nắng - Bao giòng sông quên nguồn
                   Và câu chuyện đau thương ở quê tôi trong thời xa xưa: một em bé khoảng 3,4 tuổi, ngày thường mẹ nó đi hái dâu nuôi tằm hay cho nó đi theo. Dâu trồng trên bãi phù sa cát trắng. Một hôm mẹ nó đi vắng, bỏ em bé ở nhà một mình. Nó cũng cứ nghĩ mẹ đi hái dâu, nên lững thững theo đường cũ tìm mẹ, ngờ đâu khi lạc vào bãi dâu trưa nắng khát nước chồn chân, chắc chắn chỉ có biết khóc gào mẹ ơi mẹ hỡi, rồi gục chết trên cát nóng. Mỗi bước chân đi của Minh Châu tự trói mình bằng tình yêu xứ sở…  Cũng chết chóc đau thương đầy máu và nước mắt… chứ có đâu đơn gỉản chỉ là những ước mơ thiếu thốn hình hài – những  chán chường ủ mục dấu chân – để em gom tất cả những ngày hạ làm món quà dành sẵn… ấm mùa sau  người về.   
                   Sống là sống ở đời, hiện hữu tại thế với cái hành trang phải mang theo là cái Ngã thân xác nặng nề và tinh thần rắc rối phức tạp. Đúng là như “chiếc vali” hơi lạ là mang suốt muà hè mùa của nóng bức oi nồng cay xè mắt… trong hơi thở rã mục… gom những giọt nước buồn tênh (nơi muà hạ đi qua), đúng như Lacan từng nói: có những sự thật không sao nói hoạch toẹt, mà chỉ nói nửa vời, nói bẳng ẩn dụ, bóng gió xa xôi. Người thưởng ngọan cũng phải sống qua cái màn lờ mờ đó “thân cát bụi nằm im nghe ngóng” đúng là thái độ tiêu cực nếu muốn an thân – bài ca “của chiếc lá khô cong mình” hay khom lưng cúi đầu chấp nhận, mà không chấp nhận thì có nước đi đời… chuyển màu đỏ sẫm như mảng máu bầm..
                   May mắn lắm, mà cũng rất hiếm hoi là trong cơ thân của chiếc vali nhét dầy kín kẽ (nào trách nhiệm, bổn phận, tôi đòi cung phụng) còn có chút nguyệt quế nở bung giữa rằm. Nở theo bản năng như mắt phải mở, miệng phải nói, nhưng cũng lén lút trong đêm, như con lân năm mơ tiếng trống trong mộng mị, trong tiếng mưa xối xả… phải hiểu là trong giây phút tự do thầm lén nhét đầy kín kẽ trong góc vali.
                   Một góc nữa cơn gió nhiều ngày dồn lại - len lỏi giữa khe hở của nỗi nhớ nhung chật chội. Ai đã nói (tôi cũng chẳng nhớ) thi nhân là thiên tài của kí ức, chính là sự nhớ nhung tích lủy nhiều ngày, thường là hướng về những nơi chốn hay những liên hệ của một thời đã mất, cầu mong sự liên kết giữa không gian và thời gian; nó là công việc của kí ức.
                   Góc thứ ba là nhân những buổi chiều vắng lặng tự thấy mình vô cùng cô đơn nên đâm sợ hải, bất an, bàn tay lạnh thả tuổi mình bay đi… Nhưng tuổi tác mà bay đi đâu, chẳng qua là hành trang thể xác như biến mất thành hư không, một bóng chim trong môi trường thị giác, một áng mây bay tan biến, một tiếng chuông không vang lên, tất cả hướng về hư vô, hay nói như A. Badiou: đến giây lát ở đó không có gì để nói cả, đây là trạng thái của sự vật, nhưng vật hiện hữu. cái vali của cơ thân hoàn cơ thân xách qua mùa thu…, thời tiết có đổi thay, nhưng con người cũng như thời thế không hề thay đổi. Mùa đây phải hiểu là mùa của tuổi đời, chỉ có thêm đôi mắt đợi chờ những điều biết trước hay đoán trước, với hình ảnh người thương yêu hay lí tưởng cũng thế thôi, thành một cơn điên nhét xuống đáy vali hay đáy lòng có khác gì nhau.         
                   Nói như J.M.Maulpoix, thi nhân không phải chỉ có quay về, nó cũng là người tiến lên, luôn luôn nhiều hay ít trong sự khởi hành sắp ra đi hay đang cất bước, nó kêu gọi và đòi hỏi tương lai, như Oship Mandelstan từng nói: “thi nhân như là cái máy chụp bắt lấy tương lai”. Chưa chụp bắt được thì hãy Đợi chờ tưởng tượng “chuyến đi còn dài lắm, nhưng đi là đủ rồi; những ngọn gió Thái bình dương thổi khô bụi cỏ trong vườn. Từ nào  ở đây cũng mang một nghĩa ngầm như vườn là nhà, là nước… mang mùi thơm dại chạy suốt cuộc hành trình – lúc nào đó ngước mắt lên trời – người sẽ thấy đường chim bay mãi mãi về phương Nam, dù là một phương nam héo úa tan tạ, vẫn muôn thuở với ảnh hình “Việt điểu sào nam chi”.
                                    đã đủ đầy những mỏi mệt chồn chân – đã tan hoang với cơn gió trái chiều
               hay đúng hơn theo hiện đại là “xoắn lại” theo cách thế của cây gậy thần  rượu, một ngọn lửa, một dấu hỏi, cùng lúc nó sống trong hiện tại mà quay về với dĩ vãng và phóng chiếu vào tương lai. Với niềm mong ước là người trở về vẹn nguyên – nhóm một ngọn lửa bằng lá cây khô trước sân; hay chiếc lá từng cong chuyển màu đỏ sẫm như máu bầm, hay chiếc lá khô lăn quăn trên hè phố để đốt những giấc mơ xưa cũ.
                   Ngày nay chúng ta đang đi tìm ý nghĩa của cuộc đời, và ý nghĩa chính đáng nhất vẫn không ngoài ý nghĩa của tình yêu. Nhưng tình yêu là gì?  Nó là đỉnh điểm kết hợp sự điên khùng và khôn ngoan – lời của Edgar Morin. Khi tha thiết thì tha thiết không tưởng nổi… Hãy nghe MC kể lể: …” suốt những năm tháng  tôi đã sống trong một cuộc tình phi lí mà tôi hằng gìn giữ dù không thể nào hiểu nổi… thoảng lúc cái hình ảnh thân yêu trở nên vô cùng lạnh lẽo và xa lạ xô tôi vào miền thinh lặng lảng tránh nhịp thao thức đời sống chính mình… Để thành thơ “Có thể một ngày em mất anh”
                    Là ngày - em không còn nghĩ gì về anh nữa…. vì… đã biết bao yêu thương – cũng chừng ấy chán chường
                   Có thể một ngày em muốn đi trên con đường lạ - có thể một ngày chẳng ai hiểu nổi – ta mất nhau
                    Từ tình yêu đến tôn thờ một lí tưởng có khác gì nhau đâu; mặt trái của yêu thương là chán chường thì mặt trái của lí tưởng là bẽ bàng ê chề thất vọng. nhưng cắt đứt tình yêu thường thì quá dễ chứ muốn thay đổi con đường lí tưởng không phải dễ đâu, nhưng tuyệt từ trong tư tưởng có khi lại dễ hơn tuyệt từ tình yêu, như em gạt bỏ một ước mơ (cứ ngỡ rằng có thật) - gạt bỏ một niềm tin (cứ ngỡ rằng vững chãi).          
                   Tác phẩm nghệ thuật có hiệu lực của một thứ khoảng cách, nó đem cái thế giới hiện thực do tâm linh cảm tính chúng ta tiếp xúc cách li và xua đi, từ đó sáng tạo ra một thế giới cảm tính đầy hư ảo… Đó là hiện tượng “thẩm mỹ trầm tư” khiến chúng ta cách tuyệt với thế giới hiện thực, từ đó tiến vào cảnh cô tịch thẩm mỹ; không có thứ cô tịch này thì không thể nào đạt được cảnh giới tối cao của thẩm mỹ kinh nghiệm, tức là nói cái này mà thực ra là chỉ cái kia. Đó là bộ mặt thật là bản chất tồn tại là chân lí. Trong tác phẩm nghệ thuật còn bao hàm hiệu quả lịch sử, trong quá trình tìm hiểu thẩm mỹ phải biểu hiện một thứ hiệu quả lịch sử. Gadamer nói rõ: “bản văn nghệ thuật mang tính cởi mở, ý nghĩa của nó là vô cùng, do đó mà sinh thành siêu việt thời đại của nó”.  
                   Giờ hãy nói đến Mưa. Nếu nắng trong thơ MC là đau khổ, thì mưa dường như là niềm hạnh phúc, nhưng cũng chỉ là thứ hạnh phúc trong mơ tưởng mà thôi. Do đó về hình thức Mưa lõa thể có cách bố trí như Nắng là toàn bài không viết hoa, ngoại trừ hai chữ là Mùa và sông Hàn. Cũng nên nhớ là mỗi từ, tự trong thơ MC mang nhiều ý nghĩa, nó thay đổi tùy theo bài, theo câu. Như từ Mưa là của đất trời, thiên thần, âm dương hài hòa, mưa cũng là máu và nước mắt của con người, là tinh khí…, hàm chứa bao vẻ đẹp tinh hoa, mưa là ân huệ của cấp trên, của vua chúa ban cho thần dân… Mưa cũng có sức mạnh tàn phá như lũ lụt dữ dội. Mưa lễ tình (valentine) là mùa của tình yêu siêu việt, nó là nguồn tình cảm cao quí vô tận, nhưng lại rớt vào những cơn mưa. Mưa của đất trời tình cờ, cũng có thể đặt nó ngay trong một xã hội, một thế giới kĩ thuật coi vật chất là tất cả. Tình yêu thay vì thăng hoa đã hạ cấp hóa chỉ còn là trò chơi vật chất… Có như thế mới xây xẩm mặt mày - bước chân dạt về phía nào cũng dập dềnh -  gió  -  sóng
                   Nước sông Hàn đục lâu rồi vì nó vắt ngang giữa một thành phố kĩ nghệ hóa, nó vật chất hóa ngay từ chóp bu. Còn chăng vẻ đẹp của tình yêu chỉ có ở những con phố bên kia… mới rực rỡ  đèn hoa kẹo ngọt.
                   gió bắt đầu tạt qua chiều là trở về với thực tại, nơi đây: căn phòng ướt lạnh cái nhìn người đàn bà trẻchới với trong tiếng gào thê thiết của con mèo gọi bạn. Ngôn ngữ thơ ở đây là ngôn ngữ của cơ thể, theo Merleau-Ponty, cơ thể là trung tâm của tri giác, tri giác ở trong cơ thể và là chủ thể, nó là cơ cấu của một thứ sáng tạo tính. Tri giác có tính chất sáng tạo, nhưng nó không phải như cái kính lấp lánh phản ánh đối tượng cảm xúc, mà là tính sáng tạo cấp ý nghĩa cho đối tượng. Cùng lúc nó cũng mang tính trực giác, nó là thứ hoạt động phản tỉnh. Merleau-Ponty cũng xác định: “Nghệ thuật là phô bày biểu lộ chân tướng của sự vật, chân tướng ấy lại tiềm ẩn trong vật chất hiện thực, chỉ thông qua tri giác mới thể nghiệm được sự tối tăm của chân tướng sự vật; cũng là cách thế để bảo trì trạng thái thần thánh của nó. Nghệ thuật phải thông qua phương cách đặc biệt của tự thân mới có thể thấy được đối tượng và biểu hiện được ý nghĩa có thể thấy được đó. Nhiêm vụ của nhà nghệ thuật là khiến cho sự tồn tại của đối tượng không thể thấy thành thấy được, bộc lộ ra chân tướng tồn tại”.
                    Nhờ thế chúng ta mới lí giải được: trong giai điệu hoang tàn của một chiều ướt  nhẹp
                    Sợi sợi mưa lõa thể đẹp như một xác thân đang thời kì hé nở…
                    Nguyên nhân chủ yếu của nghệ thuật là tính ngôn ngữ, bản thân ngôn ngữ là sáng tạo, thủy chung mang tính chất khai phóng, do đó nó luôn luôn biến hóa và là cơ sở kéo dài cách tân. Khi nói đến giai điệu thì phải hiểu là cái gì đẹp đẽ huy hoàng hòa hài biểu hiện bằng màu sắc, bằng âm thanh… của thế giới kĩ thuật văn minh rực rỡ; thế nhưng đó chỉ là cái võ bên ngoài, còn nội tại của nó là cả một thế giới hoang tàn của một cơ thể rã rời sau những giờ phút hoan lạc như một chiều ướt nhẹp. Phải hiểu ngầm từ “ướt nhẹp” là môt từ, nói như người xưa là vô cùng đắc thế của một hiện tượng rã rời tàn tạ của một thứ văn minh kĩ thuật đầy vật chất.
                   Chính trong cảnh hoang tàn đó mới thấy sợi sợi mưa lõa thể đẹp…cái đẹp của cơ thể là siêu việt là tinh hoa nhất trong vạn vật. Phải chăng đó là hiện tượng nghệ thuật, giữa cái thế giới hỗn mang của văn minh vật chất chỉ có nghệ thuật chính xác mới đúng nghĩa của nó mới tồn tại – dù nó có mang nỗi buồn đi nữa cũng vẫn ấp ủ những nỗi niềm hi vọng thanh cao xanh xanh tỏa ra khắp nơi.
                   Tri giác ngoại tại và tri giác của cơ thể tự thân là một như nhau, vì nó là hai mặt của cùng một hành động (M.Ponty). Do đó “mưa lõa thể” chỉ là mở đầu của dòng tình cảm tràn đầy (17 lần nhắc đến trong tập thơ) ở đây chúng ta chỉ nêu ra đôi ba bài tiêu biểu.
                   Từ những nỗi buồn xanh ấp ủ (mưa lõa thể) đến “Kí ức mưa” là nỗi buồn dằng dặc. Mưa ở đây là mưa của đất trời hay đất nước. Nỗi buồn cô đọng (buồn sánh và trong veo) lan tràn giàn trải tràn đầy…
                   chưa bao giờ thấm thía cái lạnh… Một ngày xưa lắc – theo tôi cái lạnh này là tươi mát vắng lặng thanh bình mới nảy ra chuyện lãng đãng trên bấu trời xanh…khiến linh hồn run lên trước sự cẩn trọng và tỉnh táo không ngờ… Một hiện tượng đạt đến như lúc tọa thiền; không lẽ MC cũng tọa thiền ư?
                   Có linh hồn phiêu lưu bằng sự tuyệt đối vô bờ - một lần đứng lại - và trôi đi vĩnh viễn…
                    Để mưa mưa cứ hoài nỗi buồn ngốc dại, mưa giờ đây không phải của đất trời thiên nhiên mà là của con người… mãi mãi chiếm cứ nỗi buồn khờ dại, nhớ thương lặng lẽ ướt át như sự ướt át tháng tháng giao mùa (đúng là ngôn ngữ của cơ thể). Có thế mới lí giải được “em vẫn tiếp tục những mong đợi xa xôi – tưởng tượng và bôi xóa - về những điều không thuộc ranh giới đúng / sai.
                   Bất cứ sự tồn tại nào đều phải mang tính chất yêu thương và câu cuối bao giờ cũng đầy tính hấp dẫn:
                   Như đã bao lần – em giấu rất nhiều cách nhìn về anh – khi tự dìu mình về một trời mưa khác…
                   Mưa này lại là mưa của thời đại, của xã hội, và anh phải hiểu là hình ảnh của lí tưởng… nhưng với MC thì cũng có một người yêu bằng xương bằng thịt, cũng có thể là người đã mang đi rất nhiêu cơn mưa
                   Ý nghĩa của một tác phẩm văn học cũng như một bài thơ chỉ có thể hiểu được nếu người ta chấp nhận cái hình ảnh đặc biệt tạo nên ý nghĩa ấy (B.A. Hirsh). Như mưa ở đây là mưa thuộc lãnh vực nội tại, mưa của bản chất thần thánh của thiên nhiên tạo hóa tự do. Nó là  nhu cầu là nguồn sống cấp thiết của vạn vật của con người không sao diễn tả hết được. Chữ Người ở đây cũng vô cùng rắc rối, vừa có tính cá thể, vừa quần thể, một giai tầng, một tầng lớp đủ cả. Có thế mới mang cả tiếng vọng của cơn dông ì ầm ngoài biển; thật ra là một hình ảnh khá đẹp, nhưng chưa đủ để nói lên những hãi hùng sóng gió bão tố lẫn với bao đau thương thảm khốc… Để lại nơi này mùa hạ đỏ hoe đôi mắt, cái không gian sục sôi nóng bức đã biến ngày thành đêm, cõi dương đã thành âm đến nỗi mình cũng không còn nhận ra mình (ta lạc mất dáng mình trên từng lối đi quen). Dạo quanh phố như tìm kiếm vật gì, mà có vật gì đâu để tìm, chẳng qua chỉ đi lơ ngơ láo ngáo – nghe  nỗi buồn vây quanh – con đường lạnh tanh một niềm hất hủi…
                   Phải chăng vì không hòa mình được với quần thể cuộc sống trở thành lạc loài. Cả đến giấc mơ cũng bị mang đi, nghĩa là mọi mơ ước cũng không sao mơ ước được. Nếu giữa khuya mà giật mình thức giấc là thức  luôn để nghe bao nhiêu phiền toái quấy rối, như tiếng chuột cắn xé giấc ngủ…Cuộc sống lạc loài còn đở, đằng này sống không ra sống, chết không ra chết, vì ban ngày thì công vệc bề bộn: tất bật bàn phiếm giấy tờ, bàn tay, ánh mắt, bước chân nhòa vào dòng người đổ xô – từng phần cơ thể bỗng thành kẻ khác – đêm ngưng lại những câu chuyện mùa hè... (ngày và đêm).
                   Nhưng nội dung thơ “Có Thể” không phải chỉ có Nắng và Mưa, mà còn lắm vấn đề, đăc biệt là đời sống nội tại tâm linh với những u uất khôn giãi bày. Trước tiên là tính kiên cường của giới nữ trong thế kỉ 21, nó không còn nhu nhược yếu đuối trong đau thương mà vẫn tỏ ra chịu đựng vững vàng trước những biến cố:
                   Khi anh gạt em ra ngoài cuộc sống của anh - em như con chim trúng tên – chấp chới bay đi với đôi cánh gảy – Đã một lần đau - thêm một lần ứa máu – cứu em – không phải thời gian làm lành vết thương - mà lòng kiêu hảnh. Tình yêu là nhát dao chém thẳng – vết sẹo suốt đời cưu mang
                   Khi anh gạt bỏ…cây vẫn xanh và hoa vẫn tím trời Em gạt bỏ ước mơ -  gạt bỏ niềm tin – (dù có) thêm một vết sẹo dài.
                   Mới thấy cái uy nghi của một thiếu nữ trong thời đại mới; dù rằng trong tâm tư như đang chết dần… trải qua bao tháng năm vẫn sống trong một cuộc tình phi lí mà tôi hằng gìn giữ…Không có gì đau bằng: thoảng lúc cái hình ảnh thân yêu trở nên vô cùng lạnh lẽo và xa lạ xô tôi vào miền lặng thinh lảng tránh nhịp thao thức…(Tan vào buổi chiều). Để thấy rõ từng phần cơ thể như rã tan vào không gian. Nhưng khổ thay các triết gia hiện đại lại nói rã tan là tồn tại, là hiện hữu, vì vô là hữu. Đên nỗi cuộc đời không còn biết bắt đầu từ đâu, và kết ở đâu. May mắn là có chút tâm hồn thiên phú, si mê nghệ thuật, biết lắng nghe thanh âm rối bời trên đường phố, nghe cây hát, biết ngắm những sắc màu chuyển động trên lá bàng.
                   Biết điên khùng của yêu thương và bận rộn của âu lo (không biết bắt đầu từ đâu và kết thúc từ đâu). Không lẽ MC cũng ý thức được tình yêu mang một mâu thuẫn đặc biệt, đó là sự hiện diện của điên khùng và khôn ngoan. Cái đẹp của tình yêu chính là sự biểu hiện cái chân lí tự ngã qua kẻ khác hay ngược lại, là xuyên qua tha nhân thấy chân lý bản thân (E. Morin). Hay nói như  Morin, sự khôn ngoan và điên cuồng không những chẳng bao giờ xa nhau, mà còn tự sinh sản lẫn nhau. Như chúng ta biết thi ca không chỉ là cách thức diễn tả văn chương, mà còn là trạng thái bất bình thường, đưa chúng ta đến chia xẻ, cuồng nhiệt, kinh ngạc thán phục sự cảm thông, sự say sưa, sự phấn khởi, và chắc chắn rằng tình yêu chứa  đựng nơi nó tất cả những cảm nghĩ của trạng thái bất bình thường. Ý nghĩa của thi ca và tình yêu là ý nghĩa có phẩm tính cao cả trong cuộc đời. Nó ràng buộc đời đời âu cũng là định mệnh, là nghiệp chướng. Nên “trong thành phố mùa đông” - mùa của lạnh lẽo cô đơn, đêm thành phố không anh – thành phố tình tự với dòng sông sâu thẳm – dòng sông ôm chặt vào lòng dịu dàng như chiếc chăn đêm…Hay khi thời tiết báo hiệu xuân về em cũng nghe lòng rộn ràng… Em vẫn nhìn anh bằng ánh mắt mùa xuân năm trước – nghe hơi ấm quanh mình – em mang về căn phòng và trải lên chăn (bài thơ ngày giáp tết)
                    Để rồi có đêm nào như đêm này – mưa  ướt nhẹp - em ôm tay mình dỗ dành bằng giấc mơ về đốm lửa –
                   Cháy trong mắt anh ngày xưa (Đốm lửa). Sức mạnh của ngôn từ là thi ca, nó không có chức vụ nào khác là vẫn bất lực là nêu ra chức danh chính xác. Tư duy tích cực cũng không thể chỉ xuất đích danh sức mạnh ấy, bài thơ luôn luôn ở trạng thái phi tạo tác (Alain Badiou). Đây là cái tâm trạng rối rắm của cả cuộc đời tác giả, dù chưa phải dài chi cho lắm, chỉ mới hai mươi mấy năm trời, chung qui cũng chỉ có tình yêu là chính yếu, bao sự kiện bao nỗi niềm dở dang… chỉ muốn xóa đi… Đôi mắt của bức ảnh treo trên tường với những ám ảnh cô đơn…những giọt nước mắt lỏm sâu kỉ niệm - cái bóng của đêm tối – như tan vào bụi – trên tay tôi - thành một mớ bòng bong - chẳng bao giờ gở nổi – những mộng mơ nằm lặng thinh như cái chết – (Xóa) Nhưng nói như Heraclite “chết để sống, sống để chết”.  Những phân tử của chúng ta thoái hóa và chết đi bằng cách sử dụng cái quá trình phân hủy làm chúng ta trẻ lại. Ái tình cũng vậy nó chỉ tồn tại bằng cách luôn luôn tái sinh. Tình yêu chính là tái sinh thường trực tình yêu bẩm sinh, tất cả cái gì xây dựng thành xã hội, tất cả cái gì được tạo lập trong đời bắt đầu phải chịu sức lực tan rã hay biến thành nhạt nhẽo. Vấn đề gắn bó trong tình yêu thường là bi kịch (E. Morin).
                    Công việc tìm hiểu thơ Có Thể của tôi đến đây cũng có thể gọi là tạm đủ. Trước khi dừng viết, với tính chất cắt dán, để kết thúc cho bản văn tôi lại mượn lời của Maulpoix để nói rằng: “Sự nhận thức thi ca không phải chỉ là sự suy tầm một ánh sáng trong đêm tối, mà là những bóng tối trong ánh sáng, nó thấy xa xa những hình thể nhợt nhạt yếu đuối, nó biết rằng có lắm điều bí mật trong vũ trụ mà có lẽ đã bị che giấu bắng cái áo khoác của ánh thái dương. Nó không hề tìm hiểu ý nghĩa của sự kì diệu, mà chỉ tìm hiểu sự khó hiểu hằng ngày. Tất cả cái nhìn với nó là nhân sư (sphinx), tất cả ngôn từ đều là vu thuật khó hiểu, mỗi một cọng cỏ, mỗi một thân cây đều chứa đựng thần thân hữu hay hung ác. Thái dương chì 1à ánh sáng hư vô và trên chiếc lá hiển hiện sự trắng bạch, ngòi bút mà nó thường dùng không hề quên noi theo đường gân của hố thẳm.
                    Và cuối cùng để có một nhận xét về thơ của MC lại  phải mượn lời của Kim Thánh Thán mà nói rằng: Thơ là lời chân tình, chân ý, chân tâm của người mà thôi; không có sự chân thành thì không phải là thơ. Vậy tập thơ Có Thể dù mỏng manh cũng đạt được sự chân thành đáng yêu.
                  
                  (9-2012)
   
                 

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

ngôi đền giữa trời cao – trương văn dân

Đi truyền thuốc về, tôi thấy cửa khép hờ. Bước vào nhà, nghe từ phòng ăn có nhắc đến tên mình nên tôi dừng lại. Tôi nhận ra tiếng bác Thuận. Có lẽ bác mới đến và hai người quên khép cửa.
- Bác thấy bệnh tình của Gấm ra sao?
- Bác rất lo. Bác đã xem hồ sơ bệnh lý của Gấm. Bác thấy tế bào ung thư của Gấm thuộc loại có nhân, rất khó chữa, vì di căn rất nhanh.
- Nhưng bác sĩ điều trị nói là sẽ  dùng loại thuốc mới nhất của hoá trị liệu. Phương pháp này tốt chứ?
- Dĩ nhiên là tốt. Bác biết nói điều này cháu sẽ không vui. Nó làm cháu thất vọng và có thành kiến xấu với người thầy thuốc. Nhưng nghe bác nói đây: Trong nghề y, người ta quan niệm, nếu nói dối mà có lợi cho một người nào thì nó là một liều thuốc bổ sung. Đừng bao giờ để người bệnh đầu hàng và luôn giúp họ bám vào một tia hy vọng dù mỏng  manh nhất.
- Bác nói sao? Con chưa hiểu hết ý.
- Khi y học không biết làm gì, họ làm bận rộn người bệnh bằng những phù phép. Lý do là để tranh thủ thời gian và khoả lấp sự  lúng túng; nhưng điều kỳ lạ là bệnh nhân lại cảm thấy đỡ hơn. Nói trắng ra đó là một thứ tự kỷ ám thị, nhờ nó mà khi uống một ly nước từ tay một người đạo mạo mặc áo blu trắng, hay từ lão thầy pháp mặc áo đỏ khăn đen, cầm bó nhang vẽ bùa trong không khí, bệnh nhân tưởng được cấp một liều thuốc thánh, nên uống vào sẽ có một sự hưng phấn mà họ tưởng là hiệu quả.
- Theo ý bác thì…
- Bác muốn nói là có những trò tầm phào, những viên thuốc vô ích, công dụng chưa rõ ràng hay chưa được chứng minh… nhưng mục đích là làm trí óc bệnh nhân bận rộn, tạo hy vọng và xoá nỗi sợ.
Điều quan trọng là con bệnh thấy “đỡ” hơn. Kết quả “tốt” hơn. Giới y khoa gọi đó là  hiệu ứng placebo.
- Nhưng dạo này con thấy sức khoẻ của Gấm đã khá hơn. Hy vọng thuốc đã bắt đầu công hiệu.
- Tại cái tâm con muốn nhìn thấy thế. Bác nhìn thấy các tĩnh mạch trên cánh tay của Gấm bị phá nát vì những mũi kim truyền thuốc, lòng bác đau lắm. Nhưng yếu tố tâm lý rất cần thiết để giúp người bệnh kiên nhẫn và kéo dài sự sống.
- Trời ơi! Nghĩa là…
- Con  hiểu rồi đấy. Nhưng phải tuyệt đối bình tĩnh và đừng nói cho Gấm biết. Hãy ở gần và an ủi Gấm.
- Vậy bác nghĩ là…
-Nghĩ gì ư? Con không thấy các móng tay của Gấm bắt đầu xù xì sao? Con không thấy giọng nó khàn khàn, nhịp thở  bình thường nhưng có lúc như bị chèn ép sao? Trên cánh tay bắt đầu xuất hiện những vết bầm. Bác sợ là thuốc chỉ gây tác dụng phụ mà chẳng hiệu quả. Hay hiệu quả không cao. Nếu vậy thì  khối u sẽ di căn lên màng phổi. Rồi lên não. Nó sẽ làm Gấm chóng mặt, xây xẩm, dễ té ngã. Không phải là bác sĩ chuyên về ung bướu, nhưng kinh nghiệm cho bác biết là tình trạng của Gấm rất đáng lo.
- Thế bác nghĩ rằng…
- Bác không nghĩ gì cả. Bác không biết được ý muốn của định mệnh. Bác sẽ không dám nói gì hết. Mà thôi, đủ rồi. Bác đã nói quá nhiều. Đã tán gẫu  nhiều hơn những điều cần thiết. Bây giờ, bác phải đi đây.
Hoảng hồn.Tôi đi giật lùi và vội bước ra khỏi nhà.

Khi tôi đóng lại cánh cửa sau lưng thì chút tự chủ cuối cùng cũng biến mất.Như một con thú bị thương, sự khiếp hãi gầm lên trong tôi như một phản ứng cuối cùng trước khi ngã vật. Gần  một tháng nay tôi đã phải đến viện ung bướu để truyền thuốc mỗi tuần ba lần. Tôi đã vật vã và chịu đựng những cơn đau, những trận nôn nửa. Thốc tháo. Người ta nói giúp tôi khỏi bệnh. Tôi đã chấp nhận sử dụng loại thuốc tân tiến, phát minh mới nhất của y học. Nhưng tình trạng của tôi  đâu cần đến những thứ đó. Tôi đã chịu những sự hành hạ không cần thiết.
Tuyệt vọng, tôi  cầm chai thuốc  trong túi xách ném vào vách tường.
Đà ném quá mạnh làm tôi mất thăng bằng.
Mắt tôi hoa lên, chuệnh choạng bước thêm vài bước, dang hai tay vịn vào tường mới có thể bước xuống những bậc thang. Đi đâu bây giờ? Tôi không biết. Nhà thì không thể vào còn nếu chạy loanh quanh ngoài đường thì tôi biết mình sẽ gục ngã. Đến nằm nhà bạn bè ư? Tôi không thể lê cái xác vô hồn này đến ăn vạ nhà ai… Suy nghĩ… Cuối cùng tôi lấy xe chạy vào một nhà trọ, thuê một phòng để nằm tạm vài giờ.
Khi mở được cửa, tôi nằm vật xuống giường như một tảng đá. Ý thức của tôi lúc đó bị rối loạn và ruột gan chỉ thấy một nỗi đau, như vừa bị một miếng đòn thâm hiểm mà định mệnh đã giáng trúng. Hy vọng cuối cùng của tôi đã bị đạp đổ. Tôi nằm úp mặt vào gối. Tôi muốn kiềm chế hơi thở để bình tĩnh lại. Nhưng những kiến thức về thiền chẳng giúp gì được. Trạng thái đóng cửa với ngoại cảnh đã thất bại. Thay vào đó, tôi cảm thấy có một sức ép lên hai bên thái dương.  Nhẹ,  nhưng sau mỗi đợt co thắt, nó làm tôi tê dại. Tôi muốn hét lên. Tôi muốn thét gào nỗi sợ với ai đó, hay đập phá mọi thứ xung quanh.
Áp lực của cõi sống như càng lúc càng đè nặng lên ngực.
Lúc cơn đau dịu đi, tôi cố gắng thu hết tàn lực để suy nghĩ. Thế nhưng đầu óc cứ trống không. Có một cái gì đó lờ mờ làm đầu óc tôi càng lúc càng mụ mị.  Bốn bức tường của căn phòng như lắc lư dịch chuyển. Chúng khép dần như bắt vít, thu hẹp khoảng không. Không gian dồn ép, vây chặt lấy tôi, khủng khiếp như bị nhốt trong một chiếc quan tài bằng kính. Xung quanh tôi chỉ có sự yên lặng của huyệt mộ. “Tôi đã làm gì? Tại sao số phận lại khắc nghiệt với tôi?”. Không có trả lời. Tôi chỉ thấy sự cô đơn của chính bản thân mình trong thế giới này. Tôi cảm giác mình chỉ còn là một mẩu thể xác đang thoi thóp, cơ thể còn ấm nóng nhưng không còn một chút sinh lực. Cái chết dữ tợn đang chậm chạp bước đến, các tế bào rồi sẽ lần lượt chết vì trái chôm chôm mỗi lúc một phình to và cô Gấm sẽ nằm bất động, ý thức, chờ đến lúc trái tim hoàn toàn ngừng đập.
Tôi nằm vật trên giường, hai hàm răng cắn chặt vào mép áo để khỏi phải hét lên. Vì cuồng điên và  bất lực.
Tâm trí tôi mờ ảo như một đám sương mù. Hai bên thái dương đau nhức, tôi thiếp đi trong một cơn mơ màng.
Giấc ngủ đã đến. Nhưng có lẽ đó không phải là giấc ngủ mà là một sự mê mệt, một sự quên lãng hoàn toàn. Từ trước đến nay chưa bao giờ tiềm thức của tôi lại chìm đắm trong một sự lãng quên đến thế, khó khăn lắm tôi mới có thể kéo dần tiềm thức trở về với thực tại, từng tí, từng tí một. Khi tỉnh dậy, tri giác của tôi vẫn không sao xác định được thời gian. Chỉ mơ hồ hiểu là trời sắp về chiều. Và tiếp theo cảm giác đó là nỗi sợ hãi.
Nó đã bám theo tôi ngay cả trong giấc ngủ.

Sự im lặng trong căn phòng bỗng làm tôi khó chịu. Tôi ngồi bật dậy mở toang cửa sổ. Những khối tháp bằng ciment án mất tầm nhìn. Có lúc tôi tưởng như tất cả những cao ốc đang sừng sững mọc lên trong thành phố này đang ngạo nghễ đè lên ngực mình. Cùng với nó là khói bụi, tường vách, ban-công, nóc nhà sắt thép đang đổ ụp. Tôi có cảm giác là thân thể mình mỗi lúc mỗi cứng đờ, và có lúc, trong cơn sợ hãi điên cuồng, tôi muốn khóc rống lên làm náo động cả cái thế giới này.
Không. Cần phải ra khỏi nơi đây. Phải đi ngay, đi ngay… nhưng trời đất bao la thế này mà tôi chẳng biết về đâu. Tôi không còn một chỗ nào để được yên thân. Tuy nhiên tôi hiểu là mình cần phải đi khỏi đây, cần phải thoát khỏi sự im lặng khủng khiếp này.
Và bất thình lình, tôi ngồi bật dậy lao ra hành lang.
Sau lưng là cánh cửa mở toang hoác. Và trong sự ngạc nhiên của nhân viên phòng nghỉ tôi thanh toán tiền phòng trong vội vã, lấy xe rồi phóng ra ngoài.
Tôi chạy trên đường đờ đẫn như một kẻ mộng du. Những hình ảnh và khuôn mặt bềnh bồng quanh mình như những bóng ma. Tôi nhìn mọi người, và có lẽ mọi người cũng nhìn lại tôi, nhưng tôi như không thấy gì cả.Tôi không ý thức là mình đang nhìn cái gì. Mình đang chạy đi đâu. Chỉ có tay lái và tay ga không hiểu bằng cách nào cứ cho xe lao đi, chạy vun vút trên đường phố.
Một mối quan hệ nào đó bình thường điều khiển trí óc của tôi giờ đây như bị đứt đoạn. Tôi lái xe mà như không chủ đích, cứ  giữ tay lái và chạy, tiến mãi về phía trước như muốn bỏ lại nỗi sợ ở phía sau lưng. Có lúc tôi đi bình thường, có lúc tôi như đứng lại, chỉ có con đường nhựa đang chạy dưới chân. Có lúc mọi vật đứng yên mà cũng có lúc những cột điện chao đảo, lắc qua lắc lại… và tôi tưởng mình sẽ ngã. Những lúc ấy, theo bản năng tôi cố giữ thăng bằng và chạy chậm...
 Phản xạ  đưa tôi chạy về  phía cầu Bình Triệu nhưng tôi không  về  nhà mà rẽ xe qua Thanh Đa, về hướng Bình Quới.
Đến một góc khuất tôi dựng xe rồi bước dọc theo bờ sông. Tôi đi rất lâu và khi đã mệt nhoài tôi vẫn bước tiếp mặc cái mệt rã rời trong cơ bắp. Đi, đi mãi và cuối cùng tôi tìm được một nơi vắng vẻ và cạnh đó một bãi cỏ xanh. Mới đầu tôi ngồi nhưng chỉ một lát tôi thả người nằm ngửa ra bất động, hai cánh tay và đôi chân giang ra thành hình chiếc thập tự trên nền cỏ xanh mềm; Tôi nằm yên và nhắm mắt lại. Sự vĩ đại của cơn mệt nhọc tự nó đã làm giảm bớt căng thẳng. Nó không cho phép một cảm giác bất kỳ nào khác ngoài sự dễ chịu khi sự căng thẳng rời dần khỏi các cơ bắp. Tôi hít thở như lời bác Thuận dạy: “Hít vào sự bình an. Thở ra, thãi  những lo âu, sợ hãi hay căng thẳng”.
Nằm yên như thế một đỗi lâu tôi thấy người dễ chịu. Tôi chuyển thế nằm sấp, chống hai khuỷu tay ra phía trước, hai bàn tay chống lấy cằm rồi ngắm nghía những đường vân trên những chiếc lá nhỏ nằm trước mặt mình. Có lúc tôi ngắt một bông hoa dại, làm những sợi cỏ đung đưa, run rẩy. Nhìn chán, tôi xoay người nằm ngửa, cảm nhận hơi ấm của thảm cỏ dưới lưng mình. Trên cành cây, những chiếc lá có thứ màu xanh mượt mà khác hẳn những chiếc lá ửng vàng bám đầy bụi bặm trong thành phố. Các lá cây bất động treo trên nền trời vàng chanh bóng loáng. Vẻ xanh xao của bầu trời càng làm cho ánh sáng chiều yếu dần. Tôi ấn mạnh lưng xuống đất và chợt cảm thấy một sự khoan khoái nhè nhẹ trong các cơ bắp. Nằm một lát tôi chống tay đứng dậy, đi dọc bờ sông, nhìn bóng mây phản chiếu trên mặt nước. Có hai bầu trời. Một trên cao. Một dưới thấp. Đường chân trời xa tắp, không biết đâu là giới hạn.

Chiều xuống. Tôi nhìn những mảng lục bình đang bập bềnh trôi. Nắng đã tắt gần hết; Chỉ còn sót lại một mảng nắng trên đọt cây cao. Lòng tôi tự nhiên chùng xuống. Tôi chưa hiểu tại sao bên một dòng sông… trong cái thời khắc của buổi chiều tàn lại gây xúc động tâm hồn mình đến thế. Có lẽ giữa phút giao hoà của ngày và đêm, sự phối hợp của nắng vàng và bóng tối đang choàng lên tạo vật một sắc màu lung linh huyền bí.
Bầu trời  chiếu sáng mờ mờ,  xanh và rộng như một đại dương phẳng lặng. Bên góc trái còn có một mảnh trăng lưỡi liềm, lơ lửng như treo giữa mênh mông thăm thẳm.
Gió nhè nhẹ thổi. Trời đang trong bỗng mây trắng ở đâu chậm chạp kéo về, bay từ hướng  đông nam qua tây bắc. Những tầng mây, mới đầu lẻ tẻ, thưa thớt nhưng chỉ trong chốc lát chúng kết hợp  thành nhiều khối, rồi đột  ngột hiện ra như  muôn nghìn đền đài đồ sộ; mỗi khối có kích thước lớn hơn ức vạn ngôi đền thông thường mà con người xây dựng xưa nay. Nó có những đỉnh cao như toà tháp, những mái bằng nhô cao, vạt thấp, những hình trôn ốc được chạm khắc, đường nét đậm nhạt uyển chuyển giữa trời… hình ảnh xem giống Angkor-wat, mà còn vĩ đại hơn Angkor-wat hàng trăm hàng vạn lần.
Nhưng có lẽ tôi không nên gọi nó là Angkor-wat, mà phải gọi là đại vực, là Grand Canyon vĩ đại và đồ sộ.
Một bức tranh thiên nhiên kỳ tuyệt hiện lên sừng sững giữa trời cao.
Xung quanh khối tháp bên phải có ánh nắng chiếu vào, do một khúc xạ và phản chiếu kỳ ảo, ánh sáng biến thành những đường viền màu trắng, làm những đền đài kia càng thêm sáng chói và rực rỡ.
Màu sắc của  đại vực lộng lẫy và biến hoá vô lường.
Tôi nhìn sững cảnh sắc kỳ lạ đó như kẻ bị thôi miên.
Thời khắc như dừng lại, và cảnh đền đài đồ sộ hiện giữa không trung  kéo dài đâu chừng vài  phút.
Bởi, sau mốc thời gian đó, một điều kỳ lạ đã xảy ra.
Gió!
Bầu trời chuyển động. Gió nổi lên. Mỗi lúc mỗi mạnh. Những khối mây vần vũ, dịch chuyển, đổi ngôi. Có một khối  tháp lớn bay qua, che khuất,  như va chạm vào ngôi đền làm tường thành ập xuống. Trên thinh không những vân sóng đồng tâm, tầng tầng lớp lớp loang ra, lan rộng.
Theo làn sóng những đền đài, miếu mạo bị chấn động, run rẩy, tự dát mỏng, biến dạng rồi  chìm đi. Mất hút.
Cảnh tự xoá diễn ra chậm chạp. Trịnh trọng và thần bí như tuân theo một nghi lễ trang nghiêm.
Bất ngờ hiện ra, đột ngột biến mất.
Tất cả những hình tượng đó chợt làm tôi thấy rõ sự sụp đổ; như sự tan vỡ của ảo tưởng. Và ngộ ra sự trần trụi của phù du.
Mọi phiền muộn, lo toan trong đời đều điên rồ, vô nghĩa.
Rồi cuốn hút trong chấn động của vân sóng, những lo âu, phiền muộn bỗng chốc tiêu tan; Tình yêu, khổ đau, bệnh tật, hạnh phúc, tử sinh chỉ là hư ảo.
Tất cả đều bị xoá mờ.
Trên bầu trời phút chốc chỉ còn một màu mây xám.
Những tảng mây  không còn hình thù gì rõ nét.
Dưới ánh hoàng hôn, lác đác có vài khối mây riêng lẻ. Có khối vàng vọt  nhưng cũng có khối sẫm đậm màu da cam.
Phần lớn đã tự dát mỏng và phân tán như muôn nghìn lông ngỗng, vắt vẻo giữa trời.
Dòng sông trước mặt vẫn đang chảy nhẹ nhàng thoải mái trước mắt tôi. Tiếng nước chảy rì rào. Tôi đến sát bờ, soi mình trong dòng nước. Tôi nhìn thấy khuôn mặt và mái tóc xoả dài phản chiếu trên mặt gương. Dường như trong mờ mờ nhân ảnh còn có cái gì của quá khứ, của hiện tại và của tương lai đang quyện vào nhau. Kiếp trước, kiếp sau, đời này tiếp nối. Khuôn mặt dừng lại vài giây, như nhìn lại tôi, rồi, bất chợt một con nước xoáy, bóng ảnh kia tan biến.
Ngay lúc ấy, tôi thấy một cơn đau, nhói lên giữa ngực. Nhưng tôi chỉ khẽ đặt một bàn tay lên ngực mà không sợ hãi. Tôi biết  rồi sẽ có một cơn đau sung sướng, hiệu quả như một nhát dao chí mạng, vết thương vỡ mủ, ứa ra… sau đó tất cả sẽ chấm dứt. Và cuối cùng máu sẽ phọt ra  từ hai trái phổi, phù phù rửa hết những đau thương và bất hạnh.
Đây đó, mây tản mác thành những mảng đen lấp loáng, như vết dầu loang trên biển.
Chiều đang xuống nhanh. Mặt trời sắp tắt…

Trích tiểu thuyết  “Bàn tay nhỏ dưới mưa”
(Công ty văn hóa Phương Nam & Nhà xuất bản Hội nhà Văn -2011)
(từ trang 320-327)


hai bàn tay thì đầy

(Đọc Bàn tay nhỏ dưới mưa, tiểu thuyết của Trương Văn Dân, Nxb Hội Nhà văn, 2011)

Đọc một cuốn tiểu thuyết dài hơn 400 trang trong bối cảnh đời sống hiện nay quả là một việc không mấy dễ dàng ngay cả với những người được coi là chuyên tâm nghiên cứu văn học. Vậy mà tôi đã đọc tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa của Trương Văn Dân một cách say sưa, nhiều khi lén lau nước mắt vì sợ người khác nhìn thấy sự mềm lòng của một người đàn ông tuổi ngoài sáu mươi vẫn được bạn bè và đồng nghiệp coi là cứng rắn, vững vàng trong cuộc sống. Cái định đề “Quy luật của nghệ thuật là quy luật của tình cảm” mà ai đó, lúc nào đó cho rằng “xưa rồi Diễm ơi!”, nay tôi lại thấy thật đúng và thật tâm đắc.
Một kiếp người như Gấm – nhân vật chính đứng ra kể chuyện đời mình bằng nhật kí – thật khổ hạnh và bi ai trong một xã hội mà đôi lúc chúng ta ảo tưởng rằng đã là thiên đường giữa trần gian. Ở độ tuổi xấp xỉ bốn mươi, trải qua hai đời chồng, có một cô con gái nhỏ thơ ngây (tên Liên), Gấm mới bắt đầu đi tìm hạnh phúc cho mình. Tìm và gặp, cuối cùng thì Gấm đã gặp được Anh (làm nghề báo, vợ và con mất trước đó), cùng một cảnh ngộ, có thể tri âm tri kỉ. Đến bây giờ Gấm mới nhận biết được, thấm thía được tình yêu và mới thấy “như yêu lần đầu”, mới thấy “hạnh phúc thật ra ở ngay trong những điều nhỏ nhặt”. Gặp được Anh, Gấm mới “ngộ” ra được nhiều điều sơ đẳng mà lại như là chân lí của đời sống. Nhưng số phận của Gấm thật éo le và tột cùng đau đớn. Đúng khi tưởng như nắm giữ được hạnh phúc với người đàn ông của đời mình (“một nửa” của mỗi con người), thì Gấm lại phát bạo bệnh (bị ung thư). Tất cả vỡ vụn và sụp đổ tan tành trong con người Gấm. Một lần đã lâu, tôi có đọc một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Đumbatze nhan đề Quy luật của muôn đời, có một ý ngẫm thấy thú vị: trong đời mỗi người, nên có một lần nằm trong bệnh viện, đó là dịp tốt nhất để ta suy ngẫm chín chắn về giá trị, ý nghĩa của con người và đời sống. Lần này Gấm phải đối diện với cái chết, vì thế cũng là lần đầu tiên chị ý thức được “Tôi là ai? Là con Gấm? Là đứa bé bị đời bạc đãi, là người con gái trôi sông lạc chợ, bám víu vào những cuộc hôn nhân, thực chất là bè gỗ mục, chấp chới giữa dòng chảy xiết? Tôi là kết tinh của sự bất hạnh hay là người phụ nữ được yêu, được vỗ về, che chở để có thể tự cho mình là người hạnh phúc nhất trần gian? Tôi là một, hay là tất cả những hình ảnh phản chiếu từ những chiếc gương xung quanh mình do cuộc đời sắp đặt: tôi phản chiếu thành bóng trên gương và bóng lại phản chiếu lên những tấm gương khác, tạo thành chuỗi hình ảnh vô cùng vô tận. Phản chiếu của phản chiếu, hình ảnh của hình ảnh, cùng với tiếng vọng của âm thanh pha lẫn giọng cười, tiếng khóc?”.Cũng lần đầu tiên, do phải đối mặt với cái chết, Gấm bắt đầu ý thức được vấn đề “thân và tâm” của một cá thể người. Cái chết của Gấm, đáng lí là bi đát, nhưng do “ngộ” ra được cái tất yếu, cái vô hạn của cuộc đời và cái hữu hạn của kiếp người, nên lại “nhẹ tựa lông hồng”. Gấm đã bay vào cõi vô cùng, để cuối cùng “cát bụi trở về với cát bụi”. Gấm cảm thấy hạnh phúc vì “Còn tôi, tôi đã về lại với chính mình. Hòa nhập vào thiên nhiên có lẽ là phần vi diệu nhất trong tất cả những gì hiện hữu dưới ánh sáng mặt trời”. Như thế là Gấm đã ngộ ra được lẽ tử sinh, đã ý thức được cái giới hạn vươn lên cõi vô cùng của con người trong thế giới này.
Lối viết của Trương Văn Dân trong Bàn tay nhỏ dưới mưa, thoạt trông có vẻ như rất thật theo cái triết lí “khôn ngoan chẳng lọ thật thà” của dân gian. Trong phần kết Tro bụi và Trần gian, nhân vật Anh (xưng Tôi) viết“Câu chuyện mà các bạn đang đọc được viết lại theo nhật kí của Gấm (…). Qua những trang viết của Gấm, tôi chỉ làm công việc chủ yếu là sửa vài lỗi chính tả, viết xen vào vài đoạn cho câu chuyện mạch lạc. Còn phần nội dung và cảm xúc thì tôi cố gắng giữ nguyên, dù đôi khi những ý tưởng của Gấm mâu thuẫn hay rối rắm, phản ảnh một tâm lí rối ren tất yếu phát sinh từ những uẩn khúc, sợ hãi, khát khao trong những ngày cuối đời của nàng”. Tuy được biện minh như thế nhưng độc giả nhận thấy cái thật của câu chuyện không phải là “thật như đếm”, mà đã được chăm sóc cẩn trọng, được tính toán đến từng ý, từng đoạn, thậm chí từng câu chữ. Sẽ có người coi sự “dài dòng” là một nhược điểm của tiểu thuyết này vì nó làm mất thì giờ của độc giả. Đúng là dài, nhưng dài không phải vì tác giả “độn” vào nhiều thứ, mà vì bản thân câu chuyện tình, trong trường hợp này, quả thực là miên man bất tận.
Tôi muốn nói đến văn phong của tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa. Lâu nay, khi bàn về tính hấp dẫn của một tác phẩm văn chương, ta thường nghiêng bàn về giá trị nội dung (về “chuyện” của một tác phẩm văn xuôi), đôi khi ít chú ý tới “văn chương là nghệ thuật ngôn từ”. Tôi thấy tác giả là một người có ý thức “làm văn”. Tại sao không?! Nhưng câu chữ  của tác phẩm lại giản dị một lòng yêu đời, yêu người. Đọc kĩ thấy rõ trước hết những gì được viết ra đều từ một cảm xúc run bật, chín và mạnh – chính điều đó dẫn dụ độc giả vào câu chuyện, vào các tình huống, tâm trạng, cảnh ngộ của nhân vật “Rồi vĩnh viễn yên nghỉ trong vườn địa đàng (…). Gấm như con bướm thoát xác, chỉ để lại vỏ kén. Còn hồn nàng vút lên trời, như quả pháo thăng thiên. Và tôi tin là Gấm còn biết rằng, dù nàng đã ra đi nhưng tình yêu thiêng liêng của nàng trong cuộc sống này không bao giờ mất (…). Giờ thì Gấm đã thành mây. Tôi có cảm giác rằng ngay lúc cảm thấy mình sắp chết, nàng đã ý thức rất rõ ràng về cái chết của mình. Nàng đã cảm nhận được sự tái sinh và cũng ý thức được rất rõ sự tái sinh của mình. Vì Gấm sẽ chờ tôi bên kia thế giới. Để cùng quay lại trần gian”.
Một cái kết không “có hậu”, nhưng có sao đâu khi cuộc đời không phải lúc nào cũng có hậu, cũng chia đều may mắn và hạnh phúc cho từng người vì “Tôi kinh hãi nghĩ đến những con thuyền neo bến mà không còn kẻ qua sông”. Một bạn văn của tôi đã đọc cuốn sách này và có ý cho rằng tác giả viết như không tính đến kĩ thuật. Đúng như thế. Nhưng phải nói lại rằng, trong bất cứ nghề gì, khi đã chín, đã sâu, đã tận tâm thì công việc cứ băng băng như là không cố ý cố gắng, nhưng hiệu quả lại cao, lại bền vững. Thật ra thì Trương Văn Dân đã thử bút trong truyện ngắn (Hành trang ngày trở lại - Tập truyện ngắn – Nxb Trẻ, 2007), nên ít nhiều có kinh nghiệm viết.
Gần đây tôi có đọc tiểu thuyết Một bàn tay thì đầy của Hoàng Việt Hằng (Nxb Phụ nữ, 2010). Nhưng tôi thấy Trương Văn Dân lại có cái tứ khác “hai bàn tay mới đầy”. Cả cuốn tiểu thuyết là nghệ thuật hoá ý tưởng sau “Trong cuốn nhật kí, giữa những trang giấy, tôi còn thấy có một tờ giấy ruột của quyển vở học trò được gấp làm tư. Khi mở ra, đặt lên bàn, tôi dùng bàn tay vuốt cho thẳng nếp. Trên mặt giấy có in hình hai bàn tay. Một bàn tay nhỏ bên trái và một bàn tay bên phải to hơn và khi gấp giấy thì hai bàn tay ấy chạm vào nhau. Mắt tôi ướt đẫm. Tôi nhớ đến những lần thấy Gấm và bé Liên xòe hai bàn tay phải áp vào nhau, rồi cười lên vui vẻ. Hai bàn tay ấy Gấm đã đặt trong quyển vở ghi chép tất cả những bí mật của đời nàng”.
Tôi nghĩ cuộc khám phá bí mật đời sống tâm hồn con người của tác giả Trương Văn Dân đã chạm tới thành công bước đầu rất khả quan./.

Hà Nội 4-2012
Bùi Việt Thắng
----------------------
* nguồn: xunau.org