Thứ Hai, 2 tháng 7, 2012

chân dung hay chân tướng nhà văn [kỳ 55] - nhật tuấn


KỲ 55




                             
                                                     (tiếp theo và hết )



Sau khi sổ toẹt bằng hết những luận điểm cơ bản của Mác-Leênin, Nguyễn Khải nhìn thẳng vào nhưng vấn đề cốt lõi, những vấn nạn hàng đâu của xã hội Việt Nam. Ngòi bút của ông như lưỡi dao sắc bén mổ phanh những ung nhọt mà cả bộ máy tuyên truyền của đảng ra sức bưng bít.

Đại thắng mùa Xuân được ra rả tụng ca trong suốt 30 năm bằng những ngôn từ sáo rỗng được Nguyễn Khải đặt câu hỏi sinh tử: bằng những hy sinh mất mát của cả triệu con người, nó mang gì tới cho dân tộc. Và ông huỵch toẹt:

“Một nửa nước đã được độc lập nhưng lòng người tan nát vì tài sản một đời chắt chiu của họ đã bị nhà nước tịch thu hoặc trưng thu khiến họ trở thành những người vô sản bất đắc dĩ”.

Lòng người tan nát không chỉ vì tài sản một đời đã bị tịch thu mà còn vì những chịu đựng mất mát khác khó nói cho hết thành lời. Riêng với giới trí thức thì:

“Tầng lớp trí thức chả có tài sản gì ngoài cái đầu được tư duy tự do, thì cái đầu cũng bị nhà nước trưng thu luôn, vì từ nay họ chỉ được nghĩ được viết theo sự chỉ dẫn của một học thuyết, của một đường lối nếu họ không muốn giẫm vào vết chân của nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm”.

Nhìn lại tình cảnh dân tộc sau ngày thống nhất hai miền Nam Bắc, ông nhà văn thẳng thừng:

“Một dân tộc đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ mà mặt người dân nám đen, mắt nhìn ngơ ngác, đi đứng long rong như một kẻ bại trận. Quả thật dân tộc Việt Nam đã thắng lớn trong phong trào chiến tranh giải phóng nhưng lại thua đậm trong công cuộc xây dựng một xã hội tự do và dân chủ…”.

Vì sao, vì sao dân tộc lại đâm đầu vào thảm trạng đó, Nguyễn Khải đã phải kêu lên đau đớn:

“Thoát ách nô lệ của thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống. Dân mình sao lại phải chịu một số phận nghiệt ngã đến vậy!”.

Tuy nhiên, vì sao “cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống” tròng vào cổ dân ta lâu đến như vậy, lâu cho tới tận bây giờ và chưa biết bao giờ mới chấm dứt và trách nhiệm về những ai thì Nguyễn Khải chưa trả lời được, ông chỉ nhắc nhở giới nhà văn:

“Một xã hội tan nát, lòng người chĩu nặng những phiền muộn ưu tư, mà là những người đã hết lòng hết sức với kháng chiến bằng cách này hay cách khác. Vậy nhà văn phải viết như thế nào, phải viết cái gì để tạo được một hiện thực tràn đầy hy vọng như các nhà lãnh đạo cách mạng yêu cầu”.

Đó là một công việc bất khả, nếu nhà văn không thét lên được những âm thanh cuồng nộ thì dù có thốt lên những tụng ca trơ trẽn, vô liêm sỉ như lãnh đạo yêu cầu, thì chúng cũng bị mau chóng sổ toẹt  bằng sự thờ ơ của công chúng.

Về trách nhiệm nhà văn, Nguyễn Khải đau đớn sám hối:

“Về già tôi mới nhận ra nhà văn phải nghe theo tiếng gọi của tình cảm, của trái tim, của cái phần thiện lương trong con người mình. Nó đã bảo sai là sai, không có thứ lý luận nào chống đỡ nổi. Vả lại văn chương bao giờ cũng đồng cảm với nỗi đau của con người, những bất hạnh của con người. Chưa bao giờ vì sự mãn nguyện, sự thành công của con người mà cất lên tiếng hát ca ngợi cả. Ở các thể loại nghệ thuật ngôn từ con người phải chống chọi với mọi cảnh ngộ trái ngược chiếm gần hết các trang viết, các màn diễn, còn khi người nghèo đã thành giàu, người hèn được bước vào thế giới phú quý, trai gái phải chịu nhiều năm chia lìa tới lúc tái hợp là cuốn sách, vở diễn phải chấm hết ngay. Nó đã kết thúc cái phần nghệ thuật để bắt đầu sang phần tụng ca là cái thế giới của mãn nguyện của buồn chán, là cái phần phi nghệ thuật”.

Như vậy, văn chương chỉ có thể là tiếng nói khốn khó, uất hận trước mọi chà đạp lên con người, là những giọt nước mắt rơi trên những số phận bi thảm chứ không phải là sự reo vui, hồ hởi. Cố tình bỏ qua những đặc tính cốt lõi, những đặc điểm bản thể của văn chương, người cộng sản lại dùng nó như tiếng kèn thúc trận:

“Nhưng người lãnh đạo lại chỉ thích cái phần không phải là nghệ thuật, tặng giải thưởng, trao huân chương cho các tác giả chỉ để tưởng thưởng cái phần nhạt nhẽo vô vị ấy mà thôi. Cái cách cảm nhận hiện thực đầy tính lãng mạn ấy đã làm lệch lạc cách xem xét, cách ứng xử của nhiều thế hệ bạn đọc, nhất là bạn đọc ở tuổi mới trưởng thành, trước những biến hóa muôn mặt của cuộc sống. Họ chỉ có mỗi khả năng làm người phê bình văn học theo đường lối chính trị chính thống, tại sao cuộc sống đẹp như thế mà nhà văn lại miêu tả nó xấu đến thế. Làm sao dám cãi, hãy để cho những trải nghiệm của chính họ qua năm tháng sẽ âm thầm biện hộ giúp mình thôi”.

Nguyễn Khải phát hiện ra một kẻ phá hoại giấu mặt trong xã hội: ngôn từ.

“Một xã hội không tự hiểu mình, mỗi cá nhân cũng không tự hiểu mình, vàng thau, phải trái, cao quí ti tiện lẫn lộn, các giá trị lẫn lộn bắt đầu từ sự không chuẩn xác của ngôn từ. Câu mở đầu kinh thánh Cựu ước “Thoạt Tiên Là Ngôn Ngữ…” (Au conmmencement était le Verbe).

Nhưng ngôn ngữ trong xã hội ta hiện nay thật đáng kinh hoàng, nó được dùng như phương tiện để che đậy, dối trá:

“Vậy mà ngôn từ lại là cái mặt yếu nhất trong các lãnh vực thuộc thượng tầng kiến trúc ở các nước xã hội chủ nghĩa. Công dân của các nước ấy dùng ngôn từ để che đậy chứ không nhằm giao tiếp, hoặc giao tiếp bằng cách che đậy, “nói vậy mà không phải vậy”! Nó là cái vỏ cứng để bảo vệ mọi sự bất trắc, chống lại thói quen hay xét nét lời ăn tiếng nói của công dân của mọi chính quyền chuyên chế.

Cái bệnh “xảo ngôn”, tiếc thay lại rõ rệt nhất, nặng nề nhất ở cấp lãnh đạo:

“Cái cách tự bảo vệ ấy lại càng rõ rệt ở cấp lãnh đạo và các viên chức nhà nước làm việc ở các cơ quan quyền lực. Họ nói bằng thứ ngôn ngữ khô cứng đã mất hết sinh khí, một thứ ngôn ngữ chết, ngôn ngữ “gỗ”, nói cả buổi mà người nghe vẫn không thể nhặt ra một chút thông tin mới nào. Các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của Đảng, của chính phủ, của quốc hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất. Người cầm quyền cấp cao nhất và cấp thấp nhất đều biết cách nói mơ hồ, càng nói mơ hồ càng được đánh giá là chín chắn. Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy”.

Những kẻ nói dối không cần che đậy phần lớn lại là những kẻ dân gian đã tổng kết “trông mặt, tắt tivi”:

“Vẫn biết rằng nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì vì không một ai tin nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần, kiện liêm chính, về chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra”

Những kẻ nói dối biết là mình nói dối không hề thấy xấu hổi, bởi lẽ họ thừa biết:

“Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai họa nên không hỏi gì cũng là một phép giữ mình. Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết, nói để mà nói, chả lẽ làm người lại không nói”.

Thật ra như trong cái trò “vua cởi truồng”, cả hoàng đế và dân đen đều hiểu cả nhưng dao kề cổ nên vẫn phải “diễn”:

“Thật ra nói thế mà vẫn hiểu nhau cả. Người cầm quyền thì biết là nhân dân đang rất bất bình về nhiều chuyện, nhân dân thì biết người cầm quyền đang nói dối, nhìn vào thực tiễn là biết ngay họ đang nói dối. Nhưng hãy mặc họ với những lời lẽ dối trá của họ, còn mình là dân chả nên hỏi lại [rằng] nói thế là thật hay không thật. Mình cứ làm theo ý mình và mình cũng sẽ nói dối, nói che đậy nếu như có dịp được người cầm quyền hỏi”.

Chính vì những nhu cầu chính trị của đảng, tài sản tinh thần của dân tộc cứ ngày càng mai một:

“Cái thời mở nước, giữ nước chỉ còn lưu lại những cột mốc của các chiến công, còn cuộc chiến thầm lặng đã làm tan nát nhiều con người để con người được là chính mình, được là một thực thể thiêng liêng, đền đài lưu giữ muôn thuở cái tài sản tinh thần của một dân tộc, một dòng họ mãi mãi được vun xới, được phát triển tương ứng với sự phát triển của dân tộc, của thời đại thì chưa được văn thơ nói đến, triết học nói đến, các ngành khoa học nhân văn nói đến”.

Tuy nhiên, Nguyễn Khải vẫn kỳ vọng:

“Dầu không nói đến, không được phép nói đến thì cái dòng chảy vĩnh cửu ấy vẫn được nhiều triệu người âm thầm khai thông, bồi đắp để các nhân tài Việt Nam không ngừng xuất hiện lúc ở lãnh vực này, lúc ở lãnh vực khác”.

Và ông cảnh báo:

“Một đất nước không có những cá nhân kiệt xuất, tài ba làm chân dung đại diện trong cộng đồng nhân loại thì đó là một bất hạnh cho dân tộc, tạo ra một khoảng trống tiếp nối trong lịch sử sinh tồn của mỗi cá nhân. Rồi các thế hệ đến sau phải nối lại bằng cách nào vì vẫn phải bắt đầu từ môi trường chính trị, xã hội, từ một xã hội vừa truyền thống vừa văn minh, những mục tiêu nhắm tới vừa là phát triển cái riêng biệt, vừa là sự hòa nhập vào nền văn minh của khu vực và thế giới”.

Quả thực nhìn vào sự tiếp nối các thế hệ cầm bút, người ta không khỏi lo ngại về sự ngày càng khô kiệt những tài năng. Và Nguyễn Khải vạch mặt thủ phạm đích danh của bi kịch đó chính là: quyền lực toàn trị.

“Một nền văn minh riêng lẻ, với những mục tiêu hoang tưởng, một môi trường xã hội ngột ngạt vì cái bóng quyền lực phủ lên tất cả, quyết định tất cả thì số phận những cá nhân sẽ ra sao?

Kết thúc tùy bút chính trị “Đi tìm cái tôi đã mất”, Nguyễn Khải không đưa ra được tiên tri, dự báo nào về sự sụp đổ của quyền lực toàn trị, ông chỉ  răn đe và cảnh báo:

“Một chế độ độc tài khi phải đối mặt với những biến động lớn thường dễ bị nứt rạn, từ nứt rạn đến tiêu vong, thời gian diễn ra rất nhanh vì nó chỉ có trụ đỡ là quyền lực của một phe đảng, không có trụ đỡ về tinh thần của cả dân tộc. Một chế độ chính trị tồn tại tới non một thế kỷ hay một nửa thế kỷ cũng là lâu lắm, đã tạo ra mấy thế hệ ăn chung ở chung với nó, sinh con đẻ cái với nó mà khi nó chết không ai nhỏ được một giọt nước mắt, có người còn nhẫn tâm đạp lên cái vừa chết đó rồi mới tiếp tục bước đi, đủ biết người ta đã xem nó như vật bất tường, là quái thai, là tai hoạ, thời thế đã bất thần xóa bỏ nó một cách êm dịu, không phải tốn đến máu cũng là một may mắn phi thường. Có thể kết luận, một chế độ chính trị được xem là văn minh hay lạc hậu, là sẽ tồn tại lâu dài hay chỉ có mặt trong khoảnh khắc của lịch sử là tuỳ thuộc vào cương lĩnh chính trị của Đảng cầm quyền có thật sự tôn trọng những quyền của con người hay không, các cá nhân với những khác biệt, những phản ứng, những bất tuân của nó có được đặt ở vị trí trang trọng trong hiến pháp hay không?”.

Với lời Nguyễn Khải đã hẹn tôi năm 1978 “tao sẽ vót nhọn gươm đâm một cú cuối cùng”, thì quả thực Nguyễn Khải đã vung một đường gươm xuất sắc. Tiếc thay ông thực hiện vào lúc… đã muộn. Vào năm 2006 khi ông viết xong tùy bút chính trị này, những vấn đề của chủ nghĩa Mác, những lý thuyết chủ nghĩa cộng sản đã không còn là những bức xúc xã hội nữa, ngoài một vài nhà hoạt động dân chủ còn bàn tới “dân chủ và tập trung”, tới “vô sản chuyên chính”, tới “đấu tranh giai cấp”, hầu như đại đa số bàn dân thiên hạ, kể cả giới trí thức chẳng còn tâm thế đâu đoái hoài tới nó. Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã sụp đổ từ lâu, chủ nghĩa cộng sản đã bị cộng đồng châu Âu đặt ra ngoài vòng pháp luật, những lý thuyết của nó hiển nhiên đã bị lãng quên. Bởi vậy khi xuất hiện, bút ký của Nguyễn khải cũng chỉ được một bộ phận trí thức tìm đọc, cũng chỉ gây nên một luồng dư luận thoáng chốc rồi tan nhanh trong những vấn đề nóng bỏng khác của dân tộc và đất nước.

Lời than vãn của Nguyễn Khải có tính cách tiên tri: “Thôi chết, tung tóe mẹ nó hết rồi Tuấn ạ…”, ngày nay những truyện ngắn, ký sự, tiểu thuyết của ông chỉ còn lại trong thư viện và trong các giáo trình của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Vậy nhưng Nguyễn Khải vẫn là nhà văn được yêu mến trong lòng bạn đọc. Bằng lương tri nhà văn, lương tâm người cầm bút, cuối đời ông đã nhận ra bi kịch của đời ông và đã viết một tác phẩm cuối cùng, chỉ tiếc nó không phải là  sáng tác văn học mà là tùy bút, một tùy bút chính trị…


N.T.

6/2012

( Kỳ tới : Chân dung hay chân tướng nhà văn (kỳ 56)

----------------------------
* nguồn: blog nhattuan


Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2012

nhìn lại cuộc đời nhà ngoại giao 11 tuổi nổi tiếng thế giới

Cách đây 30 năm, trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, một nữ sinh 11 tuổi người Mỹ viết một lá thư cho lãnh đạo Xô Viết Yuri Andropov bày tỏ nỗi lo về một cuộc chiến tranh hạt nhân. Cô bé đã được mệnh danh là “nhà ngoại giao nhí” sau bức thư này.


Nhìn lại cuộc đời nhà ngoại giao 11 tuổi nổi tiếng thế giới
Ngày 29/6/2012 là kỷ niệm tròn 40 ngày sinh của Samantha Smith. Cô nữ sinh nhỏ tuổi đã trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới sau khi viết thư cho lãnh đạo Xô Viết Yuri Andropov năm 1982. Cô bé đã quyết định viết bức thư sau khi đọc được một bài báo ông về trên tạp chí Time. Bài báo nói rằng người đàn ông này, khi đó mới trở thành lãnh đạo Xô Viết, gây ra một mối đe doạ với nước Mỹ và rằng sự lãnh đạo của ông có thể dẫn tới một cuộc chiến tranh mới.

Nhìn lại cuộc đời nhà ngoại giao 11 tuổi nổi tiếng thế giới
Samantha Smith sinh này 29/6/1972 tại Houlton, Maine, Mỹ. Mẹ cô, bà Jenny Smith, là một nhà xã hội học còn cha cô, Arthur Smith, một giáo viên ngôn ngữ và văn học. Sau khi đọc bài báo trên tạp chí Time, Samantha hỏi mẹ: “Tại sao mọi người lại sợ ông Andropov? Tại sao không ai hỏi ông ấy rằng liệu ông ấy có kế hoạch tấn công đất nước chúng ta hay không?”. Mẹ cô bé trả lời với giọng bông đùa: “Tại sao con không hỏi trực tiếp ông ấy?”.

Nhìn lại cuộc đời nhà ngoại giao 11 tuổi nổi tiếng thế giới
Sau gợi ý của mẹ, Samantha đã viết lá thư: “Thưa Ngài Andropov. Tên cháu là Samantha Smith, 10 tuổi. Chúc mừng Ngài trên cương vị mới. Cháu đang lo lắng về việc liệu Nga và Mỹ có lâm vào một cuộc chiến tranh hạt nhân hay không? Liệu Ngài có ủng hộ một cuộc chiến hay không? Nếu không, làm ơn nói cho cháu biết Ngài sẽ làm như thế nào để chiến tranh không xảy ra. Ngài không nhất thiết phải trả lời câu hỏi này, nhưng cháu muốn biết tại sao Ngài muốn thống trị thế giới hay ít nhất là đất nước của cháu. Chúa tạo ra thế giới để tồn tại hoà bình cùng nhau và không có chiến tranh”.

Lá thư của cô bé đã được đăng tải trên tờ
Lá thư của cô bé đã được đăng tải trên tờ Pravda của Liên Xô. Vào ngày 26/4/1983, Samantha đã nhận được thư hồi đáp của ông Andropov. “Đất nước Xô Viết chúng tôi đang cố gắng làm tất cả những gì có thể để chiến tranh không xảy ra. Đây là điều mà tất cả người Xô Viết muốn. Đây cũng là điều mà người sáng lập nhà nước Xô Viết vĩ đại của chúng tôi, Vladimir Lenin, răn dạy”, ông Andropov viết. Cuối thư, ông Andropov đã mời cô bé tới thăm Liên Xô và xem người dân nước này sống ra sao.

Lá thư của cô bé đã được đăng tải trên tờ
Vào tháng 7/1983, Samantha và bố mẹ cô bé đã bay tới Liên Xô. Cô nhận được sự đón tiếp thân mật tại Mátxcơva. Cô bé và gia đình đã lưu lại Liên Xô 2 tuần.

Lá thư của cô bé đã được đăng tải trên tờ
Samantha đã tới thăm Mátxcơva và Leningrad (nay là St. Petersburg) và tham dự trại hè Artek dành cho trẻ em.

Lá thư của cô bé đã được đăng tải trên tờ
Ngày 22/7/1983, trước khi trở về Mỹ, Samantha đã nói những từ mà nhiều người vẫn nhớ cho tới ngày nay. “Chúng ta sẽ sống”. Nhờ có cô bé, một cụm từ mới đã xuất hiện: “nhà ngoại giao nhí”.

Lá thư của cô bé đã được đăng tải trên tờ
Sau chuyến đi, Samantha đã viết cuốn sách: “Hành trình tới Liên Xô”, trong đó cô bé miêu tả điều mà cô nhìn thấy: “Họ cũng giống như chúng ta”.

Lá thư của cô bé đã được đăng tải trên tờ
 
Lá thư của cô bé đã được đăng tải trên tờ
Ngày 25/8/1985, Samantha Smith và bố đã thiệt mạng trong một vụ tai nạn máy bay. Chiếc máy bay 2 động cơ đã bị trượt đường băng do tầm nhìn kém và gặp nạn. Toàn bộ 8 người trên khoang đều thiệt mạng.

Lá thư của cô bé đã được đăng tải trên tờ
Tháng 10/1985, người mẹ của Samantha đã thành lập Quỹ Samantha Smith để tổ chức các chuyến thăm dành cho trẻ em Liên Xô, sau này là Nga, tới Mỹ và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa 2 quốc gia. Quỹ này đóng cửa vào năm 1995.
 
 An Bình
Theo Ria
--------------------
* nguồn: dantri 



đêm cạy cửa “ngủ thử” với sơn nữ giữa rừng hoang

Nói là ngủ thử thì hơi thô thiển, nhưng đó là sự thực. Tục ngủ thử ấy, được người Dao ở bản Cỏi (Xuân Sơn, Thanh Sơn, Phú Thọ) gọi là "ngủ thăm". Có theo trai bản đi "ngủ thăm", mới biết rằng đây là một nét đẹp của đại ngàn hoang thẳm.


Mấy năm trước, từ cổng VQG Xuân Sơn vào bản Cỏi, phải đi bộ mất một buổi. Nhưng giờ đường bê tông đã vào đến tận thung lũng Cỏi. Con đường nhỏ xuyên qua những cánh rừng, với những thân cây cổ thụ lừng lững. Bản Cỏi của người Dao, nằm lọt thỏm giữa rừng rậm hoang vu.

Tôi và Hà, phóng viên báo Phú Thọ vạch rừng tìm đến nhà mấy gã thanh niên mà Hà quen biết trong bản, những gã đang ở độ tuổi “cạy cửa ngủ thăm” để kiếm vợ.

Ông mặt trời đã lặn xuống phía bên kia ngọn núi, bóng tối sầm sập đến. Đêm ở rừng xuống nhanh như lũ. Chỉ một loáng, vạn vật đã chìm trong bóng đêm, thay vào đó là ánh trăng mờ ảo, không xuyên thủng được màn sương đêm dày đặc. Tôi, Hà cùng hai gã là Xuân và Tiến, là dân thổ địa đi “ngủ thăm” để kiếm vợ.

Bản Cỏi nằm giữa thung lũng đẹp như mơ
Bản Cỏi nằm giữa thung lũng đẹp như mơ


Có thể giải thích tục “ngủ thăm” như sau: Người con trai thích cô gái nào trong bản thì tìm đến tán tỉnh. Nếu cô gái đó gật đầu thì chàng trai có thể ngủ lại nhà luôn, cùng màn, cùng chiếu với cô gái để thăm dò xem cô gái đó có làm vợ được không. “Ngủ thăm” vài bữa thấy được thì mang bạc trắng, lợn béo đến để hỏi vợ.

Bản Cỏi nằm lọt thỏm trong thung lũng, có con suối thơ mộng chảy qua. Ánh trăng không đủ sáng, chúng tôi phải mang theo đèn pin để soi đường, rồi cứ thế đi ngược con suối là lên đến sườn núi, nơi đó có mấy ngôi nhà sàn đều có con gái đang ở độ tuổi chờ người “ngủ thăm”.

Bấy giờ, sương đã xuống dày kín các con đường, vuốt mặt lại thấy sương đọng thành giọt ở lòng bàn tay. Cả bọn dạo quanh một vòng bản Cỏi để thăm thú tình hình.

Đêm ở bản chẳng có động tĩnh gì ngoài tiếng suối ào ào. Thỉnh thoảng có tiếng tắc kè gọi bạn vang lên đơn điệu. Trong những ngôi nhà sàn to tướng leo lét ánh điện.

Tiến và Xuân dòm từng ngôi nhà, ngắm từng cái bậu cửa, cầu thang như tên trộm.

Một góc bản Còi
Một góc bản Còi


Sau khi dạo một vòng chúng tôi quyết định cạy cửa nhà cô gái tên Huyên. Huyên sinh năm 1994. Ở tuổi này chúng bạn đã có con bồng con bế cả rồi, vậy mà Huyên vẫn còn kén chọn.

Phải nói là Huyên đẹp, tuy nhiên cái gò má hơi cao của em đã làm cho bao nhiêu chàng trai mê đắm mà vẫn không dám lấy làm vợ.

Từ khi em mới 13-14 tuổi, đám trai bản đã nô nức kéo nhau đến “ngủ thăm” nhưng rồi chẳng ai đem bạc trắng, lợn béo đến xin em về làm vợ cả. Cũng chỉ tại ông thầy mo ở bản ác ý nói bóng nói gió rằng em có tướng sát chồng và đám trai bản kia dù có gan góc đến mức nào cũng không thể vượt qua một lời nói cẩu thả của ông thầy mo, người có uy tín tối cao trong bản.

Cả bọn ngồi trò chuyện bằng tiếng Dao, tôi không hiểu gì, chỉ lặng lẽ ngồi nhìn họ tán tỉnh nhau.

Hà bảo tôi rằng Xuân đang ngỏ ý muốn “ngủ thăm” với Huyên song Huyên từ chối khéo léo bởi vì Huyên đang có một anh chàng khác. Người “ngủ thăm” của Huyên đang học nội trú dưới huyện. Trò chuyện một lát nữa rồi Xuân ngoắc tay ra hiệu “chuồn” vì “đồn” này đã có “địch”, “đánh” cũng không hiệu quả nữa.

Ngôi nhà nào có con gái đến tuổi cập kê, sẽ bị trai bản cạy cửa hàng đêm
Ngôi nhà nào có con gái đến tuổi cập kê, sẽ bị trai bản cạy cửa hàng đêm


Đi một đoạn nữa chúng tôi lại dừng chân bên đường. Xuân nhảy tót qua hàng rào, trèo lên cầu thang, ngó vào khe cửa rồi quay ra thông báo rằng có một tốp đang tán tỉnh cô gái 16 tuổi tên Vân trong đó.

Chúng tôi lại đi tiếp lên phía sườn núi và lần vào nhà hai chị em cô gái tên Mịch và Hoa. Mịch sinh năm 1994. Hoa là em gái của Mịch, sinh năm 1996. Mịch ăn mặc mỏng manh, đã nằm trong màn, kéo ri đô kín mít, chẳng biết cô đi ngủ sớm hay đang chờ ai vào “ngủ thăm”.

Cô gái ngồi trên bậu cửa chính là Hoa. Hoa ngả đầu, nghiêng nghiêng mái tóc, thêu chiếc khăn có hoa văn màu xanh lam rất bắt mắt.

Hoa nhỏ nhắn, xinh nhất bản Cỏi. Tóc dài, buông thõng như cánh rừng đêm trăng liêu trai mờ sương. Không chỉ trai bản mà dân miền xuôi nhìn thấy em cũng ngẩn ngơ như đàn ong vỡ tổ.

Mịch trở dậy tiếp chúng tôi. Mịch cũng đẹp lắm. Mịch là đối tượng Xuân đã ngắm từ lâu. Nghe họ nói chuyện tôi không hiểu gì song theo Tiến thì hai đứa cũng mến nhau lắm rồi, chỉ ngày một, ngày hai nữa là chúng “ngủ thăm” với nhau mà thôi.

Thiếu nữ Dao
Thiếu nữ Dao


Lát sau, qua ánh lửa cháy bùng bùng, chúng tôi mới nhìn thấy ở góc bên kia, trên chiếc phản có một gã đang nằm ườn, chừng giả vờ như đang ngủ. Hoa lại gần bên gã, gã làu bàu khó chịu, rồi lại lăn ra... bất động.

Thấy Hoa ngồi bên gã đó, Tiến sa sầm mặt mày. Hoa là đối tượng Tiến đã nhắm từ lâu mà chưa được “ngủ thăm”, vậy mà bỗng nhiên đêm nay cái gã Chuông nhỏ con đó lại được Hoa cho “ngủ thăm”. Trông điệu bộ đó thì dường như họ đã sắp thành vợ, thành chồng.

Hoa mang ấm nước sôi ùng ục ở bếp lửa cho chị Mịch pha trà mời khách. Hoa cố tình tránh ánh mắt đau đớn như chất chứa hàng ngàn câu hỏi của Tiến. Hình như em giả vờ chạy về phía bếp lửa đùng đùng cháy ở góc nhà nhụt bớt lửa cho đỡ phí củi.

Giường bên, bố mẹ và các em của Mịch vẫn nằm yên trong màn. Nhà có con gái trẻ thì bố mẹ đều phải chịu trận như thế.
  
Trò chuyện độ một tiếng thì Xuân nháy mắt ra ám hiệu với tôi. Hà bảo rằng Mịch đã đồng ý cho Xuân “ngủ thăm” từ đêm hôm nay. Thế là ba chúng tôi đánh bài lui, để cho gã Xuân đó được ấm ổ.

Tiến thì đã chán lắm rồi, không muốn đi nữa. Người trong mộng của Tiến đã có kẻ “ngủ thăm”. Đêm nay Tiến chỉ còn biết cầu trời cho gã đó không lấy được Hoa để Tiến còn cơ hội được “ngủ thăm” với nàng. Chỉ vì giúp tôi và Hà được “ngủ thăm” đêm nay mà Tiến mới tiếp tục đi.

Người Dao đi hỏi vợ (ảnh: Phạm Công Hoan)
Người Dao đi hỏi vợ (ảnh: Phạm Công Hoan)


Gần trăm hộ gia đình trong bản, nhà nào có con gái chưa chồng từ 13 –14 tuổi trở lên Tiến đều đưa vào bộ nhớ. Chúng tôi tới mấy chỗ song các cô gái đều đã có người “ngủ thăm” cả rồi, hoặc là họ đã lên nương từ mấy hôm trước chưa về.

“Ngủ thăm” là một phong tục diễm tình nguyên sơ của rừng già. Thoạt nghe ta thấy ngỡ ngàng, tưởng họ sống phóng túng. Tuy nhiên, sự việc hoàn toàn không phải như vậy.

Người con trai “ngủ thăm” tại nhà cô gái là để tìm hiểu tính tình người con gái chứ không phải để làm bậy với người mình yêu. Chiếc giường, nơi chàng và nàng “ngủ thăm” thường gần với chiếc giường của bố mẹ cô gái và được giám sát chặt chẽ. Họ nằm ngủ bên nhau nhưng vẫn giữ khoảng cách, không chạm vào nhau. Chỉ trò chuyện với nhau mà thôi.

Người Dao cấm tiệt con gái, con trai được làm việc “bậy bạ”. Nếu làm việc “bậy bạ” trước khi cưới sẽ bị phạt vạ rất nặng. Lễ cúng tạ thần linh phải có tới 6 thầy mo cúng trong 3 ngày, vài con lợn béo đủ cho cả bản ăn uống no say.

Đám thanh niên người Dao “ngủ thăm” trước khi cưới theo phong tục từ thuở hồng hoang với một tâm hồn rất trong sáng.

Chính vì sự trong sáng mà từ xa xưa đến giờ, ở cái bản xa xôi này vẫn chưa bao giờ xảy ra điều hối tiếc.

Theo Đỗ Duy
VTC
------------------
* nguồn dantri 



chàng nông dân điều khiển điện bằng... điện thoại - thái bá dũng & đức lập

TT - Một thanh niên trồng xoài ở xã Đắk Gằn (huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông) là Nguyễn Thái Toản đã “sáng chế” bộ tắt - mở nguồn điện ba pha chỉ bằng... một cú alô.

Sáng kiến này xuất phát từ thực tế công việc của Toản phải mất nhiều công sức và thời gian do chạy đi chạy lại để đóng tắt cầu dao điện tưới tiêu cho vườn nhà. 



Nguyễn Thái Toản với “hộp đóng - cắt nguồn từ xa bằng sóng điện thoại” của mình - Ảnh: B.D.

 
Vườn xoài của Toản rộng gần 5ha nên mỗi lần nối thêm ống tưới là phải bỏ ống, đi xa hàng trăm mét hoặc nhờ người đứng “canh” để ngắt cầu dao máy bơm.
 
ý tưởng từ đồ chơi

Huyện sẽ hỗ trợ kinh phí

Sau khi biết chuyện chàng trai trồng xoài “sáng chế” bộ đóng - cắt nguồn bằng sóng điện thoại, ông Hoàng Công Thắng - chủ tịch UBND huyện Đắk Mil - đích thân đến tận nơi để tìm hiểu. Sau khi xem qua, ông chủ tịch huyện vỗ vai Toản: “Chú thấy cái này hay đấy, nhưng cháu phải làm gọn nó lại cho bắt mắt và rẻ hơn một chút”.


Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Thắng nói: “Một thanh niên mới học hết lớp 6 mà làm ra được thiết bị này là điều rất mừng. Tuy nhiên tôi thấy còn rườm rà và tốn kém nên động viên Toản làm thêm. Huyện sẵn sàng hỗ trợ kinh phí nếu Toản có ý định phát triển thêm để đưa ra thị trường”.

Toản kể mỗi lần nối ống tưới như vậy phải bỏ ống cho nước chảy không rồi chạy về nơi đặt máy để ngắt cầu dao điện. Suốt nhiều mùa xoài, Toản luôn ấp ủ một ngày nào đó sẽ sáng chế được thiết bị mà “chỉ cần ở một chỗ nhấn nút là điện có thể đóng - mở mà chẳng cần chạy đi chạy lại mệt nhọc”. Dù mới học đến lớp 6 đã phải nghỉ vì gia đình khó khăn nhưng Toản rất mê đồ công nghệ, từng ao ước trở thành kỹ sư điện. Đó có lẽ cũng là lý do khiến Toản mày mò suốt hai năm để “sáng chế” bộ đóng cắt điện bằng sóng điện thoại.
 
Chuyện bắt đầu bằng một sự tình cờ. Một hôm, em trai của Toản đã chán ôtô đồ chơi có điều khiển từ xa, Toản “mổ tung” chiếc xe rồi ngồi mày mò và tập trung vào hai thiết bị là bộ điều khiển từ xa và bộ hộp số. Toản rút ra được nguyên lý: chiếc xe được điều khiển từ xa bằng sóng radio, đem ghép hai thứ này vào sát cầu dao điện một pha (loại nhỏ) rồi cầm điều khiển chạy lùi ra xa và nhấn nút thì cầu dao đóng - mở khá hoàn hảo, ý tưởng đã có thành công bước đầu.

đến bộ tắt nguồn

Việc ứng dụng thiết bị của ôtô đồ chơi để đưa vào sử dụng đóng ngắt điện là thành công bước đầu của Toản. Thế nhưng vì thiết bị hoạt động bằng sóng radio nên phạm vi điều khiển được rất ngắn và sóng hay chập chờn, việc đóng ngắt cũng rất thất thường và chỉ đóng được nguồn điện một pha, trong khi các loại máy bơm hầu hết đều sử dụng cầu dao lớn chạy điện ba pha. Dựa trên nguyên lý sử dụng sóng để tạo ra nguồn điện trong bộ máy ôtô đồ chơi, Toản đã “nâng cấp” , không sử dụng sóng radio nữa mà sử dụng sóng điện thoại.

Từ những nghiên cứu khá kỳ công, năm 2011 Toản “đặt hàng” một người bạn thiết kế giúp một thiết bị nhận tín hiệu điện thoại (thiết bị hoạt động giống như thiết bị nhận tín hiệu ôtô đồ chơi). Bộ điều khiển từ xa gồm có các bộ phận: một chiếc điện thoại di động, một bộ cảm biến nhận tín hiệu từ điện thoại, một bộ “hộp số” có thể quay và tạo ra lực đẩy để đóng - cắt nguồn và một hộp cầu dao an toàn (có chức năng phòng chập cháy). Toản phân tích: khi cuộc gọi được thực hiện đến, chiếc điện thoại hoạt động và đèn báo có cuộc gọi phát sáng, bộ phận cảm biến sẽ hoạt động khi nhận được ánh sáng từ điện thoại để tạo ra một dòng điện nhỏ đẩy cần quay ở hộp số (bình thường bộ cảm biến đã được nối điện ở chế độ chờ). Khi cần đẩy ở hộp số quay tới vị trí giáp nhau giữa hai đầu mạch điện sẽ ép sát hai mạch điện này lại với nhau. Từ đây dòng điện sẽ được nối mạch, máy bơm sẽ hoạt động.

Toản giải thích thêm: khi muốn cắt nguồn điện thì cũng thực hiện cuộc gọi kế tiếp, bộ cảm biến nhận tín hiệu từ điện thoại được lập trình sẵn cứ một cuộc gọi thì đóng - cuộc gọi kế tiếp thì tắt. Để đề phòng nguy cơ chập cháy, Toản đã gắn thêm một hộp cầu dao an toàn, thiết bị này sẽ tự động ngắt toàn bộ nguồn điện khi mạch điện chập chờn, hoạt động không ổn định.

Từ khi “sáng chế” thành công bộ đóng - cắt nguồn này, Toản đã tự tưới vườn xoài một mình mà không cần ai trợ giúp. Nhiều người biết chuyện tìm đến hỏi chỗ mua, Toản chỉ cười. Anh cho biết trước mắt sẽ nghiên cứu thêm để làm sao “tinh gọn” lại bộ điều khiển này và hạ giá thành tới mức thấp nhất, từ đây có thể sẽ bắt đầu một ý định mới.

-----------------------------------------

TS Nguyễn Bá Hải (ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM): Trân trọng sự ham tìm tòi

Việc điều khiển thiết bị qua điện thoại là không mới. Tại Việt Nam ứng dụng này đã được nhiều sinh viên và các bạn trẻ thực hiện tại các trường học. Đối với công trình của Nguyễn Thái Toản, hạn chế lớn nhất là chi phí vẫn còn cao so với tính năng của thiết bị. Công trình này có một yếu tố mới là Toản đã sử dụng ánh sáng từ điện thoại (khi có cuộc gọi) để tác động một cảm biến quang nhằm đóng mở một cần gạt cầu dao điện thay vì sử dụng việc giao tiếp trực tiếp với điện thoại. Nhưng phương pháp này khá thủ công, thô sơ. Việc sử dụng hiệu ứng ánh sáng của màn hình gây lãng phí điện vì màn hình sáng tiêu tốn nhiều điện năng hơn so với việc giao tiếp trực tiếp với điện thoại.

Tuy nhiên, sự ham tìm tòi và sáng tạo của Toản là điều vô cùng đáng quý và trân trọng. Tôi tin rằng với đam mê sáng tạo bắt nguồn từ cuộc sống đời thường, Toản sẽ gặt hái được nhiều thành công và niềm vui trong cuộc sống. Nếu cần trao đổi thêm để cải tiến công trình này, Toản có thể liên hệ với tôi.

Hồng Nhung ghi
-------------------------
* nguồn: tuoitreonline


sáu mươi năm… cuộc đời! - văn viết lộc












cuộc đời ta lạ thật
sáu mươi tuổi
không một đồng dính túi
ngửa mặt lên trời! sĩ diện với ai đây?
ta không buồn sao con mắt lại cay
miệng ú ớ không ra lời nhân nghĩa
tay nải cũng không, có gặp bụt cũng huề
không lẽ tuổi sáu mươi
 ta lại muốn làm càn…

ta cũng có những tháng ngày ở núi
sao không nghe ra gió lạnh phương nào…
sáu mươi năm giờ ngồi giữa phố
ớn lạnh trong lòng mà cứ ngỡ chiêm bao     
ta cũng có: - con đàn cháu đống
sao nghe ra vẫn cô độc như thường
bạn bè ta cũng muôn trùng đấy chứ
 rượu đâu rồi… sao lại để chén không?


chân dung hay chân tướng nhà văn [kỳ 54] - nhật tuấn

KỲ 54

Nhà văn Nguyễn Khải và nhà báo Nguyễn thị Ngọc Hải   



             

 Có thể nói không ngoa Nguyễn Khải là nhà văn Việt Nam đầu tiên lôi chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam ra pháp trường lần lượt nhằm bắn vào những yếu huyệt. Một mặt cái chủ nghĩa này chủ trương «đấu tranh giữa các mặt đối lập là động cơ của tiến hóa» mặt khác trong «nội bộ Đảng» họ lại hạ xuống một cấp, không còn là «đấu tranh giữa các mặt đối lập nữa» mà chỉ còn là… «phê bình và tự phê bình».

Nguyễn Khải thẳng thắn vạch ra cái trò «phê và tự phê» đó là giả dối, vô tích sự:

«Các đảng cộng sản đều coi phê bình và tự phê bình là cách giải quyết mâu thuẫn nội bộ hữu hiệu nhất. Sự vật vận động sẽ sinh mâu thuẫn, giải quyết được mâu thuẫn sự vật mới có cơ hội phát triển, tiến lên. Phủ định và phủ định của phủ định, nghe vừa khoa học vừa huyền bí, như câu thần chú: “Vừng ơi, mở cửa ra!”, cứ đọc to lên là cánh cửa vào tương lai sẽ mở toang (…). Nếu tin vào câu thần chú ấy thì Mao Trạch Đông đã không bày ra tấn tuồng “cách mạng văn hóa” để tiêu diệt mọi kẻ dám can ngăn những chủ trương đầy tính phiêu lưu của ông. Ấy là nói về những người nắm quyền lực cao nhất, còn những người nắm những cơ quan quyền lực thấp hơn cũng chả bao giờ họ tin vào cái phương pháp lãng mạn đó cả. Trong các cấp ủy họ vẫn tự phê bình và phê bình nhau một cách sốt sắng giả dối…».

Chính vì toàn thể cán bộ đảng viên cho tới nay vẫn đồng lòng và được phép diễn cái trò dối trá này nên cái xấu không hề bị tiêu diệt và cái ác ngày càng nảy sinh:

«Và ai nấy đều tự bằng lòng hơn sau những lễ xưng tội giải tội hết sức vui vẻ này. Và mọi thói xấu, kể cả tội ác nữa, vẫn nghiễm nhiên tồn tại như trước đây, vẫn là những vùng cấm chỉ những kẻ quá chán đời mới dám đơn độc xông vào (…). Đó là một màn diễn khổng lồ, rất tốn kém, chả đem lại bất cứ kết quả nào. Vì chỉ là diễn thôi, người cũ kẻ mới đều vào vai rất thành thạo. Rút cuộc kẻ có tội vẫn ngày càng hung hãn, càng tự tin, còn người vố tội càng lúc càng dè dặt, hãi sợ. Kỳ quái nhỉ?».

Bởi lẽ định nghĩa con người là «tổng hòa các mối quan hệ xã hội» nên những người cộng sản bỏ qua cái phần sâu thẳm, cái phần mù mờ, «những tiếng thì thầm rất nhỏ mỗi đêm trong chính mình»:

«Con người có 2 mắt đều hướng ra cái thế giới vật chất bên ngoài, không có con mắt nào hướng vào trong để ngắm nghía, kiểm soát cái thế giới tinh thần của nó nên nó bị mù một nửa, cũng như nó không có cái tai bên trong nên không thể nghe được những tiếng thì thầm rất nhỏ mỗi đêm trong chính mình. Hai cái khuyết tật bẩm sinh ấy đã làm con người thiếu hoàn chỉnh, là nguyên do mọi đổ vỡ của nhiều danh nhân dũng tướng vào những năm cuối đời. Nhưng cũng có một số ít người có khả năng nhìn được sự vận động cả trong lẫn ngoài, nghe được những tiếng động rất nhỏ cả ngoài lẫn trong. Họ không có cấu tạo vật chất đặc biệt nào mà chỉ bằng cái năng lực tinh thần rất mạnh đã bù đắp được những khiếm khuyết bẩm sinh». 

Mất cái khả năng «lắng nghe chính mình» hoặc không được phép thăm dò vào những vùng cấm đó, ngay đến các lãnh tụ cộng sản khi viết hồi ký cũng chỉ toàn một màu anh hùng:

«Nhiều tập hồi ký của các danh nhân cả chính trị lẫn văn hóa đều thiếu cái phần còn nhày nhụa của họ, cái phần thú vật của con người nơi sản sinh ra những tội ác chưa hình thành, cái què quặt, cái buồn cười đã được kiềm chế đúng lúc, đã được giấu nhẹm, cái phần họ muốn quên đi và rất dễ trở thành lang sói với đồng loại nếu trong đồng chí, đồng nghiệp còn có người biết đến và nhớ tới. Cuộc chiến đấu lớn, có tính bi kịch giữa mình với mình bao giờ cũng hoành tráng, cũng đẹp, rực rỡ những màu sắc đối nghịch vì nó đã bộc lộ đầy đủ nhất cái phẩm chất LÀM NGƯỜI trong mỗi CON NGƯỜI. Không phải bất cứ ai cũng tạo ra được trận chiến thần thánh ấy, vì chiến trường ở ngay trong lòng mình, mình vừa là kẻ thách đấu vừa là kẻ dám nhận đấu, dẫu thua cũng là cái thua của thần thánh. Một công việc trang trọng đến thế, hùng tráng đến thế mà lại dám nghĩ là công việc của số đông, của những người chưa hề chuẩn bị một cái nhìn bên trong, một cái nghe bên trong cho riêng mình, cả đời họ sống trong tự mãn, trong u mê, bất thần mời gọi hãy nhìn lại mình, hãy nhìn lại người để có được những phán xét và điều chỉnh chuẩn xác! (…)».

Mất cải khả năng «tự vấn», mất  cái khả năng «tự nhận thức», «tự tra vấn mình», các lãnh tụ cộng sản chỉ còn tìm tới những cái gây thích thú ở nơi đám đông. Đó là những cái mà Nguyễn Khải vạch ra sơ sơ đã thấy hãi hùng:

«Không có mùi vị của thuốc súng, của máu người và những tiếng la hét cuồng nộ của đám đông thì người cầm quyền biết thở bằng gì?».

Vậy chẳng hóa ra những người cầm quyền là những con thú say máu hít thở bằng tiếng «cuồng nộ của đám quần chúng» và bằng máu người. Nguyễn Khải quả thực đã rất «nhà văn» khi đi tới cùng việc vạch trần bộ mặt giả nhân giả nghĩa của những người thành thạo thích kích động quần chúng để được nghe tiếng la hét cuồng nộ của đám đông.

 Thoát khỏi vòng kim cô của Đảng bắt ne bắt nét nhà văn phải viết thế này phải viết thế kia, Nguyễn Khải định vị lại cho chỗ đứng và bản chất của văn chương: 

«Tập thể không làm ra văn chương vì nó không có cảm nghĩ riêng, tâm sự riêng, tính cách riêng. Nó là vô danh. Một tâm sự mãn nguyện, những tiếng cười hoan lạc, một kiếp người quá đầy đủ cũng không thể có chỗ đứng trong văn chương. Vì văn chương bao giờ cũng thuộc về những tiếng kêu của con người để đòi lại những gì còn thiếu: thiếu tự do, thiếu công bằng, thiếu hạnh phúc…».

Vậy là văn chương tuyệt nhiên không thể là tiếng kèn xung trận các nhà văn thổi lên thật to để giúp Đảng đốc thúc, cưỡng ép hàng triệu, hàng triệu con người đi vào chiến tranh giành giật quyền thống trị trên cả nước. Ngược lại, văn chương phải là «những tiếng kêu than của con người».

Thực sự, Nguyễn Khải đã điểm đúng huyệt:

«Đời người là bể khổ, những khao khát về tinh thần của con người là vô cùng nên mới cần có văn chương và nghệ thuật để bù lại. Còn mọi thứ đều được biết, đều đầy đủ, đều mãn nguyện thì tôn giáo không còn, triết học không còn, và tất nhiên văn chương cũng không thể còn. Nó sẽ chết vì bị ngạt, vì không còn những khoảng trống huyền bí để suy nghĩ, để mơ mộng và để thở. Những gì mà chủ nghĩa cộng sản hứa sẽ thành hiện thực trong tương lai thì cái hiện thực ấy sẽ giết chết cả loài người. Vì thượng đế đâu cần những con dòi béo quay lúc nhúc dưới chân Ngài». 

Khi hứa hẹn một xã hội «làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu», một xã hội «thiên đàng» thì họ đâu có biết họ đã giết chết con người.

«Cũng may đó chỉ là những lời nói dối, tự dối mình và dối người của những con người đã phải sống nhiều trăm năm trong cùng khổ, trong tuyệt vọng. Còn hướng tới thiên đàng ư? Là thiên đàng trần gian hay thiên đàng thượng giới cũng không một ai có thể sống nổi. Sống không lo nghĩ, không mong muốn, không đấu tranh là kiếp sống con dòi rồi. Chả lẽ những con dòi cũng có thể cất cao những cái đầu múp míp của chúng để làm ra triết học và thơ ca!».

Vậy thì cái «thiên đàng vẫy gọi » kia chỉ đáng giành cho đám giòi bọ. Một sự « ỉnh thức vĩ đại  của Nguyễn Khải không chỉ bằng sách vở, tư biện mà chính là ông đã «nghiệm sinh» trong đời sống:

«Những điều viết trên đây không do tôi tưởng tượng ra mà do những trải nghiệm bản thân mà có. Những năm còn trẻ cả vợ lẫn chồng đều ăn lương quân đội, lại phải nuôi dưỡng những bốn đứa con, nhà ở ven bãi sông năm nào cũng phải chạy lụt, lại quá chật có 15 mét vuông. Ăn thì mì hai phần gạo một phần, gạo phải nhặt sạn cả buổi mới dám nấu thành cơm.

Còn thức ăn ư? Chả nói nữa ai cũng ăn như thế, ăn dưa ăn mắm suốt mấy chục năm đã hóa quen. Cả nhà chỉ có hai cái giường, một cái bàn, hai cái ghế, tiếp khách ở đấy, mời cơm khách ở đấy, con học bài cũng ở đấy, và ông bố viết văn cũng chỉ có cái bàn ấy. Đêm đêm nằm cạnh hai thằng con trai lớn đạp ngang, quẫy dọc, rắm đánh thối um, vừa quạt cho hai thằng con ngủ tôi vừa mơ mộng đến một ngày nào đó, các con đã trưởng thành, tôi có được một phòng riêng để viết và tiếp bạn, mỗi bữa cơm đều có cá hoặc thịt, có cả chút rượu nữa càng hay.

Tôi không phải lo nuôi con, không phải lo cả trăm thứ vặt vãnh để tồn tại, chỉ có đọc sách, ngẫm nghĩ, đi chơi đây đó với bạn bè và viết, ắt hẳn tôi sẽ viết được một hai cuốn sách để đời. Bây giờ tôi đã ngoài bảy chục tuổi, đã có đầy đủ những gì tôi khao khát, có thể nói còn hơn cả khao khát. Tôi đã sống đầy đủ, sang trọng nữa, hơn nhiều nhà văn tôi được biết ở các nước Đông Âu. Và tôi đã nghĩ nếu chủ nghĩa cộng sản thành công ở Việt Nam thì cũng chỉ cho được tôi đến thế. Khốn nỗi, lúc này tôi đâu còn năng lực làm việc bằng trí tuệ nữa mà cũng chả có nhu cầu nào phải đòi hỏi. Cuộc sống được vỗ béo của một kẻ ăn không ngồi rồi đã giết chết mọi tư tưởng ở trong tôi, rồi giết luôn đến đội quân chữ nghĩa, chúng đã hóa ra rỗng tuếch, vô hồn. Nhà văn mà hết chữ thì chỉ là cái xác chết. Xác chết con người với xác chết con dòi có gì là khác mà phải phân biệt!».

Đó thực sự là những sám hối chân thực, dũng cảm và đanh thép.

(còn một kỳ cuối)

-----------------------
* nguồn: blog nhattuan



miền "cụp lạc" [kỳ 11] - nhật tuấn

KỲ 11

 



                               
                                    (tiếp theo)

Sau khi đếm đủ 118 con cá giống bé tí tẹo vẫn nguyên xi trong chậu thau, lão mới cho bà vợ bưng vào nhà và quay sang gã lúc này vẫn đang đứng bẽn lẽn như người có lỗi:
“Nguồn sống chính của tôi đây. Mẹ kiếp, ba bằng đại học, bốn mươi năm hoạt động cách mạng, về già làm thằng gác cổng và nuôi cá…”.
Gã bước rảo ra phố như bị “ma ám”, đôi mắt “hai tròng” của lão cứ bám riết trong đầu làm gã nôn nao, quên béng ý định đi tìm cô gái làm tiền có tên là Tình. Gã cứ bước thấp bước cao dọc theo con phố lờ mờ đèn đường, lừng lững hai hàng cây cao và đôi khi một vệt đèn xe máy lướt qua, chói bên tai tiếng còi xe và tiếng chửi rủa ầm ĩ.
Có tiếng bước chân lạch bạch phía sau, gã ngoái nhìn và nỗi sợ cố hữu đâm nhói trong ngực. Khổ người đẫy đà, hơi thấp, tóc cắt cao, mặt rộng, người đi sau gã giông giống lão cảnh sát lâu rồi gã không gặp.
Gã quay phắt như điện giật, cố bước thật nhanh đến đầu con hẻm phía trước và quặt vào đó. Không khí đầm ấm trong những ngôi nhà nhỏ sát nhau làm gã yên tâm. Một bộ xa lông trên đó mọi người quây quần xem ti vi, một ngọn đèn mờ tỏa xuống căn phòng nhỏ trong đó một cô gái đang chạy những hợp âm rải trên chiếc đàn piano, ở một ngôi nhà khác, gã thấy hai đứa nhỏ đang học bài… Và rồi quanh co hết mấy con hẻm, khi ra tới phố lớn, ngoái nhìn, gã bỗng giật mình, hắn vẫn lẽo đẽo theo  sau, mặt lầm lì, lạnh băng. Gã bước nhanh hắn rảo chân theo, gã đi chậm, hắn cũng bước chậm theo, trời ơi, phải về nhà, về nhà ngay lập tức. Gã cứ cắm đầu cắm cổ đi như chạy và khi tới cổng một ngôi nhà lớn treo đèn rực rỡ gã đâm sầm vào một người đang đi vào. Không kịp để gã mở miệng xin lỗi, anh ta đã ôm chầm lấy, reo tướng:
“Ối trời, hóa ra là cậu đấy hả? Thế mà tớ cứ nghe đồn cậu bán xới khỏi cái thành phố này rồi đấy. Vào đi, vào kiếm ghế ngồi không sắp hết chỗ thì chỉ có mà đứng”.
Gã cứ để anh ta lôi bừa qua đám người đang túm tụm dọc lối đi, len qua các hàng ghế kê kín sâu và phía trước là cái sân khấu buông kín mít tấm màn đỏ. Một người cao gầy từ trong lách ra gõ rột rẹt vào chiếc micro đặt trên bàn, hét to: "Một… hai… babốn… năm… tôi thử máy… một… hai…”. 
Cuối cùng gã cũng nhận ra cái người đang lôi gã xềnh xệch qua các hàng ghế chính là nhà thơ nổi tiếng Trầm Hoài Tử. Suốt cả thời chống Mỹ, hầu như anh ta đã chiếm lĩnh các buổi tiếng thơ thường phát trước lúc đi ngủ bằng những bài thơ nóng hổi hơi thở chiến trường khiến người nghe phải nằm mơ thấy tiếng bom rơi, tiếng thét xung phong và tiếng nhạc quân hành. Mấy năm nay, anh ta lại gây xôn xao bằng những bài thơ mang âm hưởng “đổi mới tư duy, làm giàu đất nước” khiến những buổi anh đọc thơ tại các tụ điểm văn hóa kín đặc người nghe, tiếng vỗ tay rầm trời và lúc tan cuộc, hàng chục các chàng trai và cô gái xinh đẹp cứ tua tủa đưa ra những cánh tay cầm sổ xin bằng được chữ ký.
- Ngồi đây, ngồi đây là tối ưu rồi.
Nhà thơ ấn gã xuống một cái ghế sắt, ngồi xuống bên cạnh rồi lại đứng phắt dậy, phóng tầm mắt nhìn khắp bốn xung quanh:
“Ông Giám đốc Sở kìa, bà đại diện tuyên huấn thành ủy kìa. Trời, cả anh Năm Đồng cũng đến nữa kia ư? Quá năm phút rồi, khách mời đến cả rồi sao không thấy ai ra khai mạc?”.
Đến lượt gã cũng bắt chước  nhà thơ đứng người dậy nhìn khắp bốn xung quanh. Không, không thấy “cái đuôi” đâu cả, hắn đã bỏ cuộc hay ngồi lẫn trong đám người đông nghẹt kia?
“Kìa, đã bắt đầu rồi kìa…”.
  Nhà thơ kéo tay, ấn gã ngồi xuống và trỏ lên sân khấu, ở đó đang đi ra một người mặc comlê, thắt cravát, tay cầm cuộn giấy tiến tới microo, khom lưng xuống chào trịnh trọng:
“Để mở đầu đêm thơ chủ đề “đổi mới tư duy”, tôi xin hân hạnh được giới thiệu…”.
 Gã trợn tròn cả mắt, ù cả tai chẳng còn nghe thấy gì. Trời ơi, liệu có thể như thế được không, “hắn” đó, cái người đi theo gã trông giống hệt ông cảnh sát, mà có lẽ đúng ông ta thật chứ chẳng chơi, cái người đó chính là diễn giả đang đứng trên sân khấu đọc diễn văn khai mạc kia.
“Hay thật, cái lão này nói trúng vấn đề thật…”.
  Nhà thơ vỗ đôm đốp vào vai gã, không để ý gã đang nhớn nhác tìm lối ra. Chuồn cho nhanh khỏi nơi này thôi, gã nghĩ vậy, chuồn nhanh trước khi hắn đọc xong diễn văn và đi tới thộp cổ mình.
À, đừng có ra vẻ vờ vịt nhé, mình thừa biết hắn chả chú trọng tới những điều hắn đang đọc trong cuộn giấy kia đâu, hắn chỉ nhăm nhăm để mắt tới mình thôi. Đấy, hắn lại vừa liếc xuống đây đấy, chuồn thôi. Gã vừa dợm người đứng dậy bị ngay nhà thơ kéo xuống:
“Cậu định đi đâu? Ở lại dự với anh em chớ, lát nữa tớ sẽ đọc một chùm mới làm. Mà này, cố ở lại đi, cuối buổi sẽ có chiêu đãi bia hơi đấy”.
“Tớ phải về… bận chút việc…”.
“Thôi đi ông tướng, lại cắm đầu dịch truyện trinh thám chứ gì. Cậu hồi này bắt đầu sa đoạ rồi đấy. Chúng nó bảo cậu quẳng thơ đi rồi, suốt ngày chỉ lo kiếm tiền thôi, đúng không?”.
 Chao ôi, nom nhà thơ loẻo thoẻo thế kia mà đôi tay như hai cái kìm sắt giữ cứng gã trên ghế chẳng còn cựa quậy được. Gã kêu lên tuyệt vọng: 
“Cậu cho tớ về… tớ bận việc thật mà…”.
“Bận cái việc gì? Lúc này không có việc gì quan trọng bằng ngồi đây nghe anh em đọc thơ. Này, hôm nay có cả nữ sĩ Hoài Thu đấy nhé, em vừa khoe là đã làm xong một chùm thơ thể nghiệm, tìm ra được âm điệu mới, báo hiệu trào lưu thi ca hiện đại. Tớ đọc xong là đến lượt nàng đấy. Cậu phải ngồi lại nghe mà mở mắt ra chớ”.
 Gã ngờ vực ngó sang nhà thơ. Quái, sao hắn sốt sắng giữ mình lại thế? Hắn muốn mình nghe thơ hắn hay chính hắn là cộng tác viên của lão cảnh sát? Nếu vậy mình phải chờ tới lúc hắn lên đọc thơ thì mới chuồn được, nhưng trước hết mình phải giả vờ không biết đang bị hắn theo dõi.
“Cái con mẹ này, đọc thơ mà cứ như ném chữ vào mặt người ta…”.
 Nhà thơ Trầm Hoài Tử kêu lên trong lúc vẫn giữ chặt cánh tay gã: 
“Đấy, ông đã thấy thế nào là thùng rỗng kêu to chưa? Ấy thế mà vô phúc bộ tuyển thơ nào thiếu tên Mộng Kiều là chết, mụ ta sẵn sàng kiện lên trung ương…”.
  Lúc này gã mới để ý người đàn bà đang gào thét trước micro:
“Hãy tiến xa hơn, xa hơn nữa…”, dẫu rằng thân hình nhỏ thó ngược hẳn cái tên Mộng Kiều đã tiến tới mép sân khấu rồi. Chao ơi, trẻ ham nhà, già ham chùa, bà lão chắc đã có cháu nội rồi, bị ma ám sao đó vẫn cứ hò hét, hùng hổ thế kia? Nhà thơ Trầm Hoài Tử vạch tay xem giờ, kêu thất thanh: 
“Thôi chết, con mẹ này lạm giờ của anh em rồi, đã quy định mỗi người đọc ba bài ngắn thôi, mẹ đọc tuốt luốt cả bản trường ca thế kia thì bao giờ mới tới lượt mình. Cậu ngồi đây tớ phải có ý kiến với Ban tổ chức…”.
Trống ngực gã đập thình thình khi nhà thơ đã lẻn mất đằng sau sân khấu. Chuồn thôi, mình phải chuồn thôi, gã cứ lầm bầm mỗi câu đó trong lúc vội vã len qua các hàng ghế, thúc cả vào đùi một cô váy ngắn làm cô bừng tỉnh giấc mơ thơ, mắng xối xả vào mặt gã. Cuối cùng gã cũng ra thoát khỏi đám đông đang mê mẩn bởi cơn sốt ngôn từ, bước nhanh qua cổng và cắm đầu chạy thục mạng trong phố vắng. 
                          
(còn tiếp)

-----------------------
* nguồn: blog nhattuan