Thứ Ba, 3 tháng 7, 2012

giếng ước - nguyễn mộng giác


Hiệu phở buổi sáng thứ tư vắng vẻ hơn những hôm khác. Tôi chọn cái bàn ở góc phòng, nơi có thể nhìn được qua lớp cửa kính những người khách sắp tới. Người bồi bàn bỏ quầy tính tiền đến hỏi:
- Cần thứ gì đây ?
Giọng anh ta cố làm ra thân mật tự nhiên, như hai người bạn đã thân từ lâu nói chuyện với nhau. Anh ta trạc tuổi tôi, khuôn mặt trắng trẻo, để ria mép, đôi mắt biết cười. Tôi đáp:
- Tôi còn chờ một người bạn nữa. Cho tôi một tách cà phê sữa nóng trước đi!
Anh ta gật gù. Tôi không hiểu anh ta gật gù vì cái gì. Một lúc dường như không tìm được câu nói nào hợp cảnh, anh ta thân mặt hỏi:
- Filtre nhé ?
- Vâng, tôi còn nhiều thì giờ.
Người bồi bàn kiêm thâu ngân viên (hay là thâu ngân viên kiêm bồi bàn?) quay gót. Tôi có nhận xét là cách tiếp khách của những người bồi bàn ở hiệu ăn Tàu khác hẳn cung cách của các bồi bàn Việt. Ở tiệm Tàu, có thể người bưng hủ tiếu hoành thánh ra chính là ông chủ của một dãy các hiệu ăn, tiền 100 đô đốt đi không hết. Nhưng khi làm bồi, ông ta đóng trọn vai trò một người bồi bàn. Ông ta xem thực khách là vua, khép nép nhún nhường trước khách hàng. Vâng dạ tíu tít. Cái gì cũng gật. Quả ớt ngọt? đúng lắm anh Hai! Trái cam cay? Thưa phải! Không có gì cay hơn cam, cay hơn cả chili Mê, hơn cả kim chi Đại Hàn! Cái gì cũng “hẩu lớ” miễn là trả tiền đủ!Ở cái tiệm ăn Việt Nam, không hề có các điều đó. Người bưng phở muốn chứng tỏ cho khách biết mình chỉ tạm thời làm công việc này như một chuyện chẳng đặng đừng, trong quá khứ họ không hề động tay đến bếp núc. Và tương lai thì chắc chắn không thể hạ mình làm việc này. Thực khách là bạn, là người chịu ân, người được hân hạnh có một “bậc” một “đấng” tạm thời ẩn nhẫn hầu hạ. Câu hỏi đầu lưỡi để lấy “order” luôn luôn có vẻ kẻ cả, bất cần.
Mười phút sau, người bồi bàn bưng tách cà phê tới. Ở quầy thâu ngân, đã có một bà trạc 30 tuổi trang điểm kỹ càng, tóc bới cao ngự ở đó rồi. Tôi nghĩ: “Anh không phải ông chủ, không phải thâu ngân viên. Nhưng cũng không hề muốn người khác xem mình là bồi bàn. Thôi được! Cũng là bồi bếp một lũ như nhau, khỏi cần sắc mắc làm gì!” Tôi hỏi bâng quơ làm quen:
- Sáng nay vắng khách nhỉ?
Anh bồi bàn vỗ vai tôi:
- Mười giờ sáng thứ tư. Chỉ có mấy tướng thất nghiệp như anh tới đây thôi! Tìm chưa ra việc hả?
Tôi gật. Anh ta hỏi:
- Ông bạn tới chưa?
- Bạn nào ?
- Anh vừa bảo đang đợi một người bạn nữa.
Tôi trực nhớ tới Toản:
- Ờ phải! Chắc hắn sắp tới!
Người bồi bàn nói:
- Lại một tướng thất nghiệp khác.
- Vâng.
Bà chủ ở cuối phòng gọi lớn: “Có khách tới” với giọng lảnh lói. Người bồi bàn vội vã tiến về phía cửa hiệu đón cặp vợ chồng già vừa vào.
Tôi đợi Toản gần một giờ. Uống hết tách cà phê sữa, đốt nửa bao thuốc Chesterfield, suýt gọi phở để ăn cho xong rồi về, thì Toản mới lò dò đến. Toản xin lỗi rối rít:
- Định gọi điện thoại cho ông nhưng không đổi được tiền xu để bỏ vào máy. Chờ lâu không?
Tôi nhìn đồng hồ, hơi mỉa mai:
- Sơ sơ một giờ đồng hồ thôi!
Toản kéo ghế ngồi xuống, xoa tay nói:
- Thì giờ rộng rãi, hãy tiêu hoang như triệu phú đi. Không có tiền để tiêu thì hãy tiêu thì giờ.
- Ông uống gì ?
- Cái gì cũng được.
- Cà phê ở đây tệ. Khét và nhạt.
- Từ sáng tới giờ tôi nốc ba ly cà phê rồi. Này anh (Toản ngoắc anh bồi lại). Cho tôi một tô phở đặc biệt và một chai Coors.
Người bồi bàn nghiêm mặt như ông quan tòa:
- Không được phép uống rượu tại đây !
Toản cãi:
- Bia không phải là rượu. Thôi được! Cho một ly nước chanh vậy.
- Chỉ có Seven Up chứ không có nước chanh !
- Thôi được, cho Seven Up.
Toản lắc đầu, nhìn theo người bồi bàn, hỏi tôi:
- Ông tới số hay sao mà chọn cái quán kỳ dị vậy?
Tôi cãi:
- Nhưng phở ngon. Tới đây ăn phở chứ không phải để nghe một điều “yes, sir”, hai điều “yes, sir”. Vả lại, ông nên bớt rượu chè đi! Lo sống đàng hoàng để còn “làm lại cuộc đời!”
Toản ngỡ ngàng nhìn tôi, chưa hiểu tôi nói đùa hay nói thật. Nét mặt anh đổi:
- Phải, nên “làm lại cuộc đời”. Nghe thê thảm chẳng khác gì cô Kiều sau mười lăm năm lưu lạc quyết giũ sạch nợ trần. Ơ, ông kêu gì ăn đi chứ!
Tôi gọi thêm một tô phở tái. Anh bồi cằn nhằn tại sao không gọi luôn một thể cho anh khỏi đi lại nhiều bận. Toản nỗi cáu hỏi:
- Anh là bồi bàn hay là cha mẹ chúng tôi?
Thế là hai bên bắt đầu cãi vả nhau. Tôi và bà chủ hiệu phở can cả hai phía. Toản dằn tức giận ngồi xuống bàn, lẳng lặng ăn phở rồi bỏ ra bãi đậu xe trước. Tôi ngồi lại nghe lời phân trần của cả bà chủ lẫn anh bồi, xin lỗi giùm Toản đôi lời để giữ hòa khí, rồi mới đi. Tôi trách Toản:
- Ông điên rồi !
Toản bậm môi không nói gì. Tôi hỏi:
- Bây giờ đi đâu ?
- Đi đâu cũng được, miễn không còn phải thấy bản mặt của một con người nào hết! Lên núi đi!
- Nắng bỏ mẹ mà đòi lên núi. Xuống biển cho gần.
- Cũng được. Ông đi xe tôi.
Tôi ái ngại:
- Xe ông không có bảo hiểm,tay lái nặng chình chịch, ớn quá!
Toản không nói năng, mở cửa xe, đề máy, rồi chồm người mở cửa phía tay phải chiếc xe cho tôi lên. Chiếc xe gầm gừ một lúc, khói tỏa mù tiếng nổ mới hết khục khặc như người suyễn. Toản lái xe ra đường, nhưng không chạy về phía biển. Tôi hỏi:
- Ông đi đâu vậy?
- Xuống biển.
- Xuống biến sao lại chạy ngược ngả này.
Toản thản nhiên đáp:
- Mùa này học trò nghỉ hè, xuống bãi biển khác nào đi dạo chợ bán da người. Tôi chở ông tới một bãi biển hoang, chỉ có cát, nắng, và mỏm đá có hàu bám.
Tôi chán nản bảo:
- Điên hay sao mà tới mấy chỗ khỉ ho cò gáy ấy vào giờ này. Lớ xớ mấy ông đội xếp Mỹ tưởng hai thằng “gay” thì bỏ mẹ!
Toản không đáp lời tôi, lặng lẽ lái đúng luật tốc lực tối đa 55 dặm giờ trên xa lộ 5, chạy về hướng San Diego. Đến một khoảng đồi trọc, Toản dừng xe lại. Tôi hỏi:
- Có trục trặc gì vậy ?
- Không. Mình xuống đây.
- Xuống đây làm gì ?
- Đi vào trong kia có đường mòn dẫn xuống bờ biển.
Tôi cằn nhằn:
- Hai thằng đực rựa mà bỏ công phu tìm khúc biển vắng thế này, không là dân “gay” cũng là những thằng trốn nhà thương điên ra. Chán ông quá!
Nói thế nhưng tôi vẫn đi theo Toản, lòng hơi tò mò, muốn biết ông bạn định giở trò gì nữa.
Qua khỏi một ngọn đồi thấp cỏ áy, lại phải lội một quãng lầy nước lên đến mắt cá mới tới chỗ giáp múi hai ngọn núi cây cối um tùm hơn. Ở khe núi, có một con suối cạn nằm dưới một cái thác nhỏ đã khô. Dấu vết còn lại là những mảng rêu nâu bám trên sườn đá dựng thẳng và một vũng nước trong và cạn ở ngay chân thác. Hơi nóng tỏa từ vách đá át cả hơi mát từ biển xanh thổi vào. Tôi nói :
- Vườn Địa đàng của ông đây phải không?
Toản không đáp, chạy lại chỗ vũng nước quỳ xuống cố tìm vật gì. Tôi ngăn:
- Uống nước tù nguy hiểm lắm. Ông muốn tự tử hãy tìm cách khác.
Toản ngửng lên, ngoắc tôi lại:
- Ông đến tìm giúp tôi đồng xu coi !
- Đồng xu gì ?
Toản chờ tôi tới gần, trỏ về phía bên kia vũng nước:
- Ông tìm giùm phía bên kia. Đừng thọc tay xuống, nước bị quấy đục, khó tìm. Chỉ lấy mắt mà dò. Lâu ngày bùn và lá mục phủ lên, khó tìm, nhưng cố thử xem.
Tôi chăm chú nhìn kỹ đáy vũng nước. Vài chiếc lá mục nằm lẫn lộn giữa một lớp bùn nâu hiện rõ dưới làn nước trong, nhưng không thấy xu xiết gì cả. Tôi mỏi tay và hoa mắt vì chói nắng, bực dọc bảo:
- Thôi! Chạy theo cái trò điên của ông như thế đủ rồi. Đi về!
Đột nhiên Toản reo lên hí hửng:
- Đây rồi !
Toản sẽ sàng nhè nhẹ đưa bàn tay vào vũng nước như sợ làm đau khối nước bình yên, dùng hai ngón tay nhón lên một đồng 25 xu rỉ xám vì bị ngâm nước lâu ngày. Tôi tò mò hỏi:
- Kỷ niệm cuộc tình thứ 101 của ông phải không?
Toản hớn hở khoe :
- Vậy là có chuyện vui cho con bé Mai nhà tôi cuối tuần này rồi. Ông muốn ở lại tắm biển hay đi về?
Thấy Toản chỉ muốn về, tôi đáp ngược:
- Đã xuống đây thì phải tắm biển. Điên sao mà về liền khi chưa nhúng chân xuống nước mặn!
Toản xịu mặt, nhưng đành phải theo tôi đi lần theo khe núi, xuống một doi cát ngắn và hẹp nằm giữa những hòn đá lởm chởm xác hàu. Biển xanh ngăn ngắt. Và hiu quạnh lạ lùng!
***
Chúng tôi tắm nắng trên mặt cát không có vết chân người, nhàn nhã như hai ông tỉ-tỉ-phú cỡ Aristotle Onassis nằm tắm nắng trên một hòn đảo mua riêng để mỗi năm ghé máy bay trực thăng lại phơi da một lần. Tôi bắt đầu thấy khoái mùi thơm trinh nguyên của cát ấm, gió biển và rong rêu bị sóng đẩy giạt lên bờ, nằm lim dim tận hưởng ảo giác Kha Luân Bố tìm ra Mỹ châu. Toản thì lại có vẻ bứt rứt không yên. Thật lâu, không dằn được nữa, Toản hỏi:
- Sao ông chẳng hỏi tôi chuyện gì cả ?
- Có gì đâu mà hỏi ?
- Chuyện đồng xu.
Tôi cười, bây giờ mới xoay người nằm nghiêng nhìn Toản:
- Chuyện điên điên dớ dẩn của ông nghe chỉ thêm mệt!
Toản tức giận:
- Sao ông biết là chuyện điên. Ông không muốn nghe thì thôi!
Tôi khích :
- Ừ, nằm yên hưởng nắng gió một chút, rồi về !
Toản đành nằm yên một lúc nữa, độ mươi phút. Cuối cùng anh ta xuống nước:
- Không kể cho ông nghe tôi chịu không được. Cứ ấm ức trong lòng.
Tôi không nỡ đùa dai thêm nữa. Chúng tôi nằm nghiêng quay mặt vào nhau. Toản nói:
- Hồi sáng đến trễ hẹn với ông chỉ vì cãi nhau một trận trên điện thoại với thằng khốn nạn đó. Tôi không hiểu nếu mặt giáp mặt với nó, tôi có đủ can đảm phun ra chừng ấy câu độc địa hay không. Nếu nó không cúp, tôi còn nói nữa!
- Thằng nào vậy ?
- Ông hỏi đùa hay thành thật không biết ?
- Làm sao tôi biết hết những người ông cãi cọ với họ. Tính ông hay cáu, một ngày cãi với bao nhiêu người! Làm sao…
Toản ngắt lời tôi :
- Nhưng không bao giờ tôi gọi những người tôi cãi cọ với họ là “thằng khốn nạn”. Trừ hắn. Tôi biết ông biết rõ, hoặc cũng đã nghe bạn bè xầm xì về chuyện gia đình tôi, nên đã hiểu hắn là ai. Thôi! Hắn không đáng được nhắc tới. Mà nhà tôi, cũng không nên nhắc tới nữa. Sáng nay tôi nhắc điện thoại lên, bấm số, chỉ vì hy vọng rằng mùa này nghỉ hè, cháu Mai có ở nhà và chính cháu sẽ bốc điện thoại lên, trước khi hắn và nhà tôi chịu ngồi dậy. Nhà tôi đi làm về muộn, về nhà lại còn lo nấu nướng phục dịch cho hắn. Hắn ưa nhậu, khảnh ăn, nàng mệt thường ngủ đến 10 giờ sáng mới dậy. Hắn nhậu say, lại còn… nên tôi đoán không thể dậy sớm. Gọi lúc 8 giờ sáng chắc chắn sẽ được nói chuyện với cháu Mai. Nhưng sáng nay xui dễ sợ. Hắn trả lời điện thoại ông ạ. “Xin lỗi tôi được tiếp chuyện với vị nào đó ạ“. Ông xem, nó khách sáo rởm không chịu được. Tôi mím môi đáp muốn gặp “chị Tần“. “Nhà tôi dậy muộn. Xin cho biết quý danh để tôi bảo nhà tôi gọi lại cho ông“. Máu tôi sôi lên! Cái giọng “ông chủ” đáng ghét quá chừng! Nào là “nhà tôi“, nào là “bảo nhà tôi“. Trước kia có bao giờ tôi dám xem nàng như một vật sở hữu của mình như thế đâu! Nói hơi cải lương một chút, ông đừng cười, tôi coi nhà tôi như một làn hương thấp thoáng lơ lửng, tôi không dám thở mạnh, không dám nặng tay. Sợ nàng tan đi. Ông nhìn cháu Mai thì biết. Cháu là một thiên thần. Cháu là hình ảnh tôi nhìn nhà tôi. Ông đừng cười mỉa! Ừ, nhà tôi bên ngoài có vẻ tháo vát, thực tiễn, mạnh khỏe, phàm tục, thứ gì cũng được. Nhưng qua mắt tôi, nhà tôi đúng y như cháu Mai. Mảnh khảnh, yếu ớt, buồn rầu, mơ mộng, lơ láo, chới với. Những thứ đó tôi đọc được hết trong đôi mắt của cháu mỗi cuối tuần, khi tôi được phép đến đón cháu đi chơi.
Tòa cho phép nhà tôi được tiếp tục nuôi cháu. Việc ấy tôi không kêu ca gì. Trẻ con sống với mẹ vẫn hợp tình hợp lý hơn sống với cha. Chưa kể mọi sự đổ vỡ phần lớn do tôi. Trong bảy ngày mỗi tuần, tôi còn được cái ân huệ đón cháu đi chơi trọn ngày thứ bảy, sáng chủ nhật trả cháu về, như vậy công bằng. Nhưng điều khổ tâm cho tôi, là cứ áy náy thắc mắc trong sáu ngày còn lại, có thể hắn cố giở hết mánh khóe mua chuộc tình thương của cháu Mai. Hắn có nhiều cơ hội và thì giờ hơn tôi để làm việc đó. Tôi chưa bao giờ mặt đối mặt với hắn, nhưng qua điện thoại,tôi biết hắn nói khéo. Bạn bè tôi, trừ ông là kín đáo không nhắc tới, đều nửa đùa nửa thật bảo hắn đẹp trai hơn tôi, nhã nhặn hơn tôi. Tôi mất nàng, nhưng không thể để mất cháu Mai được.
Tôi âm thầm ganh đua với hắn để chiếm tình thương của cháu. Mỗi tuần,đến chiều thứ sáu,tôi không yên tâm làm được gì cả. Tôi bứt rứt đi ra đi vô, phác họa một chương trình giải trí thật vĩ đại cho cháu. Chương trình lại phải thay đổi cho cháu khỏi nhàm. Hai tuần trước, tôi dẫn cháu xuống tận đây!
- Thật à? Cháu có đòi về ngay lập tức khi tới chỗ khỉ ho cò gáy này không?
Giọng Toản đầy kiêu hãnh :
- Không đời nào! Tôi vạch ra cả một “kế hoạch”, chuẩn bị đầy đủ mọi thứ, cháu chán sao được. Tôi bảo cháu hai cha con mình chơi trò Kha Luân Bố tìm ra châu Mỹ. Cháu hỏi Kha Luân Bố là ai, tôi trực nhớ mới nói tới Columbus. Cháu cãi là Columbus chỉ phiêu lưu tìm đất lạ có một mình cùng với thủy thủ đoàn chứ không dẫn theo con gái. Tôi bảo sử chép sai, thế mà cháu vẫn tin ông ạ! Tôi chuẩn bị mang theo cả hai bộ quần áo cũ, con dao, và mớ bông gòn, chai xăng để dùng đá nhúm lửa nướng hot dog, dùng dao chặt cây làm lều lá y như thời trước. Cháu nó thích quá, chạy nhảy, nô đùa, hò hét, tắm biển suốt cả buổi sáng. Buổi chiều, chúng tôi giả vờ làm những kẻ thám hiểm chống gậy dò từng bước tìm hiểu Mỹ châu. Tôi đi trước, cháu đi sau cười hích hích. Tôi nhắc: “Coi chừng tụi da đỏ. Đừng để cho chúng nó lột da đầu nghe Mai.” Cháu cũng nhắc tôi: “Bố phải giết cho được tù trưởng Wounded Knee. Nhớ cướp cho được con ngựa thực khỏe để hai bố con mình cưỡi nghe bố!” Ông nghĩ xem, tôi bày trò đến cỡ đó thì sáu ngày còn lại kia coi như vứt đi! Một ngày cháu sống với tôi, cháu sẽ nhớ đời!
Gần xế, hai bố con tôi gặp cái thác khô và ngọn suối cạn tụi mình đến lúc nãy. Đến đây là “phần phụ diễn” ngoài chương trình, ngoài “kế hoạch” của tôi. Chúng tôi mệt nhoài vì leo núi và cười đùa. Mặt cháu bớt hồng, hơi tái và nhễ nhãi mồ hôi. Tôi bảo cháu ngồi nghỉ một chốc bên “hồ”, rồi trở về chỗ để xe, ngược xa lộ Năm lên Los Angeles ăn cơm Triều châu. Cháu nhìn vũng nước tròn như cái giếng ông với tôi đã thấy, đột nhiên hỏi tôi:
- Bố có đồng xu nào không ?
Tôi ngạc nhiên hỏi :
- Chi vậy ?
- Cho con 25 xu để quăng xuống cái “Wishing Well” này.
Tôi bàng hoàng cảm động ông ạ ! Trẻ con tinh mắt hơn mình nhiều. Phải rồi, những cái “giếng ước” xây tại các thương xá (nơi người ta quăng những đồng 1 xu, 5 xu, 10 xu, 25 xu xuống lòng nước trong róc rách chảy từ các thác giả để cầu nguyện những điều ước ao) có khác nào vũng nước cô độc này đâu. Khung cảnh ở đây lại bao la hơn, gần gũi với Đấng Tạo Hóa hơn. Nếu có một Đấng Tạo Hóa Toàn Năng ẩn mặt bên những giếng ước để lắng nghe những lời cầu xin thành khẩn, thì tại đây, bên cái giếng ước này, xa hẳn tiếng xe cộ, tiếng nhạc rock, tiếng chửi rủa, tiếng mặc cả buôn bán… Ngài phải nghe rõ những lời cầu xin hơn chứ! Tôi lục túi, còn hai đồng 1 xu, một đồng 5 xu, một đồng l0 xu, và một đồng 25 xu. Cháu chọn đồng 25 xu, và nhón đồng tiền bằng hai ngón tay như tôi làm lúc nãy, chồm người cố thả nhẹ vào giữa mặt giếng ước. Sau đó, cháu quì gối trên nền sỏi, chắp tay lại, lim dim thầm ước.
Ông nhìn được cháu vào lúc đó phải nhận cháu đúng là thiên thần. Cháu chỉ thiếu đôi cánh trắng. Cháu quì như thế khá lâu. Lúc đã ước xong, đứng dậy, tôi hỏi cháu:
- Con ước những gì ?
Cháu không đáp, chỉ hỏi lại :
- Thường thường bao lâu thì có kết quả hở bố?
Tôi đáp liều:
- Một tuần.
Cháu có vẻ hớn hở vui mừng. Hai bố con tôi ra về. Tối hôm đó sau khi ăn một bữa cơm Tàu thật ngon ở Anaheim, tôi hỏi cháu có thích đi xem phim không. Cháu bảo thích được về ngủ nhà bố một đêm để sáng mai còn về với mẹ.
Như mọi lần trước, tôi cứ muốn hỏi thăm cháu nếp sống ở nhà bên đó ra sao, nhưng không dám hỏi. Cháu Mai thì tíu tít nhảy từ chuyện nọ đến chuyện kia, nên tôi chỉ vô tình chộp được những mảnh rời, ghép lại chưa chắc đúng sự thật. Tôi làm ra vẻ lơ đãng khi hỏi:
- Tối ở bên đó con ngủ với ai ?
Cháu đáp:
- Con ngủ với Ngân.
Tôi chưa kịp hỏi, cháu đã giải thích:
- Ngân con của “bác” đó bố !
Tôi cảm thấy nóng mặt. Nhưng vẫn cố làm tỉnh hỏi tiếp:
- Ngân nó có thương bố nó không ?
Mai ngẫm nghĩ một lúc, rồi đáp:
- Con không biết. “Bác” không thương Ngân nhiều như bố thương con đâu.
Tôi sung sướng vội hỏi:
- Sao con biết ?
Cháu trả lời đơn giản:
- Vì “bác” không bao giờ cho Ngân tiền cả! Bố này, con kể chuyện này bố đứng mắng con nhé!
- Ừ! Không bao giờ bố mắng con. Chuyện gì vậy?
- Hai đồng bố cho tuần trước, con đã cho con Ngân một đồng rồi.
- Tốt! miễn là đừng tiêu hoang.
- Nó xin, con thấy tội! “Bác” mà biết được, chắc Ngân bị đòn liền!
- Ngân tiêu phí tiền lắm à? Ăn hàng à?
- Không, Ngân nó nói với con là nếu nó để dành được 50 đồng, nó sẽ “runaway”.
Tôi giật mình hỏi:
- Nó mấy tuổi rồi ?
- Nó bằng tuổi con. Đêm nó khóc hoài, làm con ngủ không được! Nhưng nhiều đêm con cũng làm nó ngủ không được! Thế là hòa !
Cháu cười tự nhiên như kể một chuyện vui. Tôi vừa hãnh diện vì tìm thấy một “điểm xấu” của hắn, lại vừa xót xa cho cháu. Nhiều đêm Mai của tôi cũng khóc trong giấc ngủ trẻ thơ sao? Những tối thứ bảy cháu ở lại với tôi, cháu đều vui tươi hồn nhiên. Đêm nào trong sáu ngày còn lại cháu đã khóc? Đêm chủ nhật nhớ bố? Tôi mong thế!
Phải đợi tới tối thứ bảy tuần rồi, lần đầu tôi mới tận mắt thấy cảnh cháu khóc một mình. Chương trình giải trí cuối tuần vẫn hấp dẫn như thường lệ, cháu vẫn vui đùa như mọi lần. Quá khuya, tôi chợt thức giấc vì nghe có tiếng động lạ. Cháu Mai ngồi hẳn dậy, và thút thít khóc giữa ánh sáng mờ ngọn đèn ngủ 5 watts. Tôi thảng thốt hỏi:
- Sao con khóc ?
Cháu cố nén những cơn uất nghẹn, đáp lại :
- Đúng một tuần rồi bố ơi! Chúa có nghe lời con ước bên “Wishing Well” đâu!
- Nhưng con đã ước gì ?
Cháu đáp thì thào:
- Con ước bố lại sống với mẹ.
Ông ạ, nghe cháu nói thế, tôi choáng váng cả người. Biết nói thế nào với cháu đây! Cuối cùng tôi bảo :
- Mới một tuần, còn ngắn quá con ạ! Chúa có nhiều việc phải lo, con hãy chờ thêm ít lâu nữa!
Cháu nó cứ khóc mãi. Tôi biết cháu không tin lời tôi, lần này là lần đầu!
Nguyễn Mộng Giác
Cali 12-7-86
Nguồn: từ tập truyện ngắn Xuôi dòng, nhà xuất bản Văn Nghệ, Hoa Kỳ, 1987

----------------------------
* nguồn: xunau.org



đất và nước - nguyễn mộng giác

Nắng đổ xuống hai dãy phố xô lệch và bụi bặm. Xe cộ nối đuôi, ì ạch gầm gừ tiến lên vài tấc rồi phanh khựng lại. Mấy chiếc Honda lách ngang lách dọc, mon men tiến về phía trước, nhưng đành chịu thua trước đám đông ù lì, làm ngơ. Người đổ xô ra đường, ngơ ngác, dò hỏi... Cửa tiệm vàng khép vội hai cánh cửa sắt, chủ nhân đứng trong thế phòng vệ. Bụi và khói xăng mù, khét, khó thở. Tiếng họ hục hặc và tiếng xe rồ ga sợ tắt máy dang dở. Tiếng còi đục và nghẹn hú vang, nhưng xe cộ vẫn mắc nghẽn.

Mọi người nhìn dồn về phía núi lở. Trên ấy vẫn bình thường. Trời thì xanh thật xanh. Nơi sườn đá hoen màu tím sẫm, mấy hàng dây điện giăng ngang qua mặt lộ, chênh chếch về phía tân cảng. Dãy nhà cất sát theo dọc núi loang lỗ dấu đạn, khép nép sợ bóng nắng. Vẫn bình yên. Vẫn ngoan ngoãn, vẫn ẩn nhẫn. Vẫn quen như từ bao giờ: đời sống tỉnh lẻ thu mình để sống bình yên qua bao nhiêu cuộc đổi thay, thay đổi. Con đường sắt vẫn song song đồng hành. Bánh xe những chuyến tàu chở vật liệu xây cất cho hãng RMK lăn hai lần mỗi ngày không đủ làm bóng mặt đất. Đường tàu vẫn song song. Chưa lệch một chiếc ốc, hoặc cong nghiêng trên một hố mìn.

Nhưng bên nầy con đường sắt bụi bay mù và trời đổ lửa. Nóng nực. Khói khét lẹt. Xe rú ga và nhấn còi. Người lao xao bu quanh...

Tránh xe. Tránh xe. Người ta làm ngơ. Cái gì vậy bà? Thằng nhỏ... Chưa trả lời hết câu, bà ta chen thêm tới chút nữa. Có người nhễ nhại mồ hôi chui từ trong ra. Gì vậy ông? Trời ơi, hết chỗ nói. Sao mà ác nhơn ác đức vậy chớ. Mà cái gì ác đức? - Tụi nó bắn thằng nhỏ chết tươi. Ai bắn? Tránh xe. Tránh xe. Còi xe mười bánh át tiếng trả lời. Người đàn ông hả miệng khoa tay trong khi tiếp tục lấn ra ngoái. Sao bà biết nó học trò? - Trời, thì cái quần xanh, cái áo trắng. Quyển sách Anh văn với tập vở đó kìa. Có ai đi báo cảnh sát chưa? Như đậu đen. Sao cái gì như đậu đen? Ruồi bu trên đống não, khiếp, thôi tao không dám ăn chè nữa. Dóc tổ. Mầy mà chừa ăn hàng. Lâu chưa? Không ai đỡ nó xuống, để treo tội nghiệp thằng nhỏ. Cái gì vậy bà con cô bác? Vô mà coi. Cái gì? Không tin sao, tay nó còn kẹp điếu thuốc. Con nít đời giờ hút thuốc tràn đìa coi cái gì, vô duyên. Mô Phật, con người ta chết mà cha nội còn nói cà rỡn. Chắc chiều nó có giờ Anh văn hở mầy? Chưa chắc. Tao thấy có quyển English for today màu vàng. Ngã cách sao mà quần móc chặt vào cây sắt vậy? Mẹ nó người miệt Bình Thới. Mỹ đen hay Mỹ trắng? Hổng biết, không phải Đại Hàn. Xe có sao trắng rõ ràng.

Nóng bức. Khói khét lẹt. Xe rú ga và nhấn còi. Người ta lao xao. Trong cái hỗn mang vô trật tự ấy, Nguyễn trở thành hòn sỏi. Đã có kẻ đạp lên chân, suýt ngã. Đằng sau đẩy tới, đằng trước xô lui. Thân thể đu đưa, nghiêng ngã, cứ tự nhiên lắc lư mà chuyển dần tới trước. Qua quá trạm xăng, người thưa hơn, mọi việc trở nên thứ tự. Trân liếng thoắng hỏi: Mầy nhìn thấy xác chưa?
- Chưa, đứa nào vậy?
- Thằng bé học lớp sáu trường mình.
- Nhưng sao mà chết?
- Mỹ bắn.
- Sao vậy?
- Ai biết được. Mấy người ở ngả ba bảo tụi nó bị mất cắp, nghi ngờ mấy đứa nhỏ nên bắn đại cho hả giận.
- Nhưng mấy đứa nhỏ làm gì cho tụi nó nghi?
- Làm gì đâu? Ba bốn đứa đi học sớm ngồi trên hàng rào tán dóc. Thằng nhỏ bị bay cả chóp não, ngã liền. Quần dính trên cây móc sắt đó nên treo lủng lẳng.

*

Kiểng đánh báo hiệu vào lớp. Đám học trò nhỏ lơ láo, ôm sách vở chạy ùa vào trong, mắt còn nhìn ngoái lại. Một nhóm nhỏ vờ như không nghe thấy tiếng kiểng, bu quanh hai đứa ở trần, mặt mày thất sắc. May cho mầy, phước lớn dữ a. Mầy ngồi sát bên nó không? -Sát chớ. Tụi tao đang nói chuyện mà. Máu nó văng đỏ cả áo tao. Giặt không kỹ, chiều má mầy la chết. Ngu, quá ngu. Má nó nghe chuyện thì mừng hết lớn chớ la gì. Quăng áo đi mầy. Dính máu người là có ma rồi.
Kiểng đánh lần nữa, gấp gấp thôi thúc. Mấy cậu nhỏ chạy vào phòng học. Học sinh các lớp 10 và lớp 11 vẫn lơ lửng ngập ngừng. Giám thị và giáo sư vẫn đứng ở hành lang nhìn ra cổng. Bên ngoài, tụi thằng Lý, Sum, Vĩnh, Sự vừa vô vừa bàn tán. Nguyễn nhập bọn và lên phía văn phòng.
Ông giám thị hỏi hờ hững:
- Chưa vào lớp cho rồi mấy em?
Sự đáp:
- Tụi nó không chịu vào, đứng canh xác.
Thầy Linh hỏi:
- Cảnh sát đã lên chưa? Có ai lập biên bản không?
Thầy Vũ hỏi ông giám thị:
- Sao, bây giờ cứ dạy hay cho tụi nó nghỉ? Xôn xao quá dạy dỗ gì được.
Ông giám thị nhìn ra cổng, trả lời mau:
- Nhờ mấy thầy cho học sinh vô lớp dạy như thường. Sợ ở ngoài ồn ào.
Cả bọn học sinh nhao nhao phản đối:
- Học sao được thầy. Tụi nó bắn chết bạn mình, xác còn nằm đó. Học sao được.
Nói vậy, nhưng cả lớp vẫn lửng thững lên cầu thang. Số học sinh ở ngoài cổng vội vã chạy nhập bọn.
Chỉ còn khoảng vài chục người trong phòng 11. Vĩnh xuống xin thầy Vũ cho học sinh vài phút bàn riêng chuyện nội bộ. Trân ra cổng gọi nốt số còn lại vào lớp. Lý băn khoăn hỏi:
- Tụi bay định làm gì vậy? Nguyễn đáp:
- Để anh em đông đủ hãy hay. Phải làm một cái gì. Không thể chịu được. Đây đâu phải là lần đầu.
Sum vẫn ngồi yên, mắt lạc thần:
- Nước mẹ gì. Rồi chả đi đến đâu hết.
Vĩnh dưới cầu thang chạy nhanh lên, reo:
- Thầy Vũ đồng ý rồi. Nào, anh em.
Vĩnh nhảy lên bục cao, giọng sang sảng:
- Có ai can đảm học nữa không? Hô chung dưới cuối lớp: Không có ai còn chịu đựng nổi cảnh này nữa. Thằng nhỏ chết tức tưởi như vậy, mình còn lòng dạ nào ngồi học. Thằng nhỏ sẽ khinh mình là bất nghĩa. Đồng bào khinh mình là bọn bất nhân. Tụi Mỹ khinh mình là bọn hèn nhát, bạn bị bắn chết mà còn cố gằm đầu vào sách. Ai có can đảm hãy đọc bài lên coi:
Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu, cái kiếp không hoa lẩm cẩm, con hồn xuân mộng bâng khuâng.
Cả lớp cười ồ. Không khí náo nhiệt, vui vẻ. Nguyễn hỏi:
- Đồng ý. Phải làm cái gì. Nhưng làm cái gì? Làm thế nào?
Trân lúc bấy giờ cùng một số bạn bè lớp 10 ùa lên, la to:
- Biểu tình. Xuống đường anh em ơi.
Phòng học trở nên nhốn nháo khác thường. Bốn năm người cùng nhảy lên bục, và người nào cũng gào to những câu không ai nghe rõ. Vĩnh mặt đỏ bừng, xô tất cả xuống, hét lớn:
- Im hết. Cho tôi nói. Biểu tình, đồng ý. Nhưng chiều nay học sinh trường mình học ít quá, mấy lớp nhỏ không có giờ. Nên phải kêu gọi các trường khác hưởng ứng. Anh em đồng ý không? (Đồng ý. Chí lý. Đồng ý là cái chắc). Cảm ơn anh em. Bây giờ nghe tôi phân công: Trân, có xe Honda, chạy xuông chợ mua vải và sơn kẽ khẩu hiệu. Thằng Nguyễn, cô hái mơ của thầy Vũ (cả lớp cười) làm Nguyễn Trãi thảo hịch (đồng ý). Sum thì xuống vận động các lớp 8 và 9 tham gia biểu tình.
Sum la lớn: Không, ồn ào. Ê, thằng Sum rét rồi. Thỏ. Sum nhảy lên bục, đứng ngay trước mặt Vĩnh, mở nút cổ áo và xăn tay:
- Đứa nào nói tao thỏ, nói lại thử tao nghe (Lao xao rồi im lặng). Tao không ngán đứa nào hết. Tụi bay là đồ con nít. Tao là huynh trưởng Phật tử, đã bị bắt chung với thầy Vi và Thụ kỳ Phật giáo tranh đấu năm 1966. Tao đã bị đập dập mũi, bị đưa lên Pleime quan sát chiến trường. Tao trải qua hết. Chịu nhiều đòn rồi. Thất vọng nhiều rồi. Tao sợ lời tụi bay khích sao? Tao không làm, vì biết chẳng đi đến đâu. Làm cái gì vô ích, tao không làm.
Lửa hơi hạ. Vĩnh lúng túng. Nguyễn nói:
- Chưa làm đã bảo là không ích. Chờ đến lúc nào mới làm? Không được gì, thì cũng được một tiếng chuông gióng. Còn hơn là bặm môi nín lặng.
Lửa lại bừng. Đúng. Đồng ý. Xuống đường gấp. Sum bỏ ra. Vĩnh lại tiếp:
- Thôi, ai muốn về thì về.
Lý dợm đứng dậy. Tiếng Vĩnh lại sang sảng:
- Nhưng tôi tin anh em ở đây không ai là kẻ hèn nhát.
Lý lại ngồi im.
Nên tôi phân công tiếp. Lớp 8, 9 khỏi cần vận động chắc sẽ tham gia khi mình giăng cờ, biểu ngữ ra trước lớp. Sự, đem kháng thư thằng Nguyễn thảo đến các trường cho ban đại diện. Được không hay từ chối như thằng Sum?
- Cũng được. Lý cương quyết đứng dậy:
- Để tôi lãnh công tác đó. Tôi có xe Honda.
Vĩnh hơi lúng túng, nhưng nói bừa:
- Thôi giao cho cả hai cậu. Miễn đừng nhân cơ hội bỏ về.
Trân vào nhanh như lúc ra đi, ôm vải và sơn. Cả lớp ùa ra hành lang, tranh nhau viết biểu ngữ. Trân khoe:
- Tao lách qua lách lại một chút đã trở về. Xin tiền thầy giám thị đó. Hôm nay vui quá xá.
Tiếng cãi vả về nội dung câu khẩu hiệu át tiếng Trân. Lon sơn đen đổ vươn vãi trên nền xi măng. Nguyễn từ bên phòng 12 cầm tờ giấy vở chạy đến, hét to:
- Xong rồi. Đây, anh em im đi. Để tôi đọc to, ai đồng ý thì ký tên vào:
Học sinh trường trung học... kính gửi tất cả học sinh công tư toàn quốc.
Hồi 14 giờ chiều ngày 7-12, một học sinh lớp 6 trường chúng tôi tên Nguyễn văn Minh, 12 tuổi, trong khi đang ngồi trước cổng trường chờ giờ học, vô cớ bị một lính Mỹ dùng súng M16 bắn chết. Thi thể nằm ngay trước mặt chúng tôi, óc vọt ra ngoài, khiến chúng tôi vừa vô cùng thương xót vừa vô cùng phẫn nộ.
Hằng ngày, một số đông lính Mỹ vô kỷ luật đã phá phách tài sản đồng bào, đập vỡ kính xe, chọc ghẹo bộ hành... Nhưng lần này, cái chết của một học sinh nhỏ tuổi vô tội đã khiến chúng tôi không còn có thể giữ mãi im lặng.
Toàn thể học sinh trung học... cực lực tố cáo tội ác kể trên của một quân nhân Hoa kỳ, một nước vẫn thường tự hào về truyền thống tôn trọng phẩm giá con người và trật tự xã hội. Toàn thể học sinh trung học... cương quyết đòi hỏi chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trừng trị đích đáng kẻ gây tội ác.
Chúng tôi kêu gọi sự hưởng ứng nồng nhiệt của các bạn, để đòi hỏi chính đáng của chúng tôi được chính phủ lưu ý, để người bạn đã khuất của chúng tôi không thẹn là một học sinh VN, và để tất cả chúng ta còn hãnh diện là người có liêm sỉ không khuất phục trước tội ác.
Khá lắm. Cả đám ồ lên. Nguyễn nhắc lại:
- Ký nhanh vào cho hai thằng Lý Sự đem đi. Nhớ đề rõ tên.
Có tiếng phản đối:
- Cần gì đề tên.
- Ký đại diện được rồi.
Nguyễn hỏi:
- Sợ hả.
- Đ M... Thằng này chuyên nói móc. Mầy ký trước đi.
Tờ giấy chuyền qua trả lại. Vĩnh bực mình sừng sộ:
- Chuyện gì tụi bây sợ dữ vậy. Thằng Nguyễn viết tự nhiên nó ký rồi. Đưa tao ký thử có chết không.
Sự và Lý lãnh sứ điệp ra đi. Số còn lại theo Vĩnh và Nguyễn hò hét mang khẩu hiệu ra đường. Xác chết hạ xuống, đặt trên cái xe mui trần. Bốn đứa mang biểu ngữ chăng ngang đường cái chận hết xe cộ lưu thông. Chiếc xe xác qua phố phường đổ nắng. Cuộc biểu tình bắt đầu. Mười phút sau, cổng trường đóng, chỉ còn đám ruồi bu đen trên vũng óc và máu đặc.

*

Hơi xác chết làm lạnh xương sống và nóng hai thái dương. Cuộc xuống đường quấy động thành phố lên cơn sốt.
Trên hiên trường, chỉ còn cụ già, Nguyễn và thầy Vũ. Xác Minh nằm co quắp trên cái bảng đen đặt trên hai bàn học, phủ bằng cái mền cũ. Chỏm tóc bết máu ló ra phía trên còn phía dưới lòi hai bàn chân xanh đá và ốm o.
Trong trường vắng, tuy cổng để mở. Mấy người lạ đứng ngoài hàng rào e sợ nhìn vào, rồi bỏ đi. Cách khoảng vài phút, một chiếc Honda rú ga leo qua cổng trường dốc, phanh gắt trước hiên. Hai ba học sinh vào, nhìn tò mò, rồi im lặng lên yên rú ga trở về phố. Thân nhân em bé đã lo mua đồ liệm chỉ còn ông ngoại yếu ớt ở lại bên xác cháu.
Từ hơn một giờ đồng hồ, hai thầy trò ngồi bên xác chết, im lặng không nói. Thỉnh thoảng Nguyễn lấy cây đập mạnh lên bảng đen, xua mấy con ruồi vo ve. Thầy Vũ nắn lại mấy ngón chân xác chết cho khỏi co quắp nhưng vô vọng. Lần đầu hai thầy trò đối diện với sự lạnh lẽo mênh mông của nỗi chết, tâm hồn rã rời. Thầy Vũ lên tiếng trước:
- Các em làm có kết quả lắm. Tỉnh hội giáo giới, hội đồng tỉnh đã lên tiếng bằng tuyên cáo hôm qua. Nghiêm nghị lên án. Đồng thanh kiến nghị. Cương quyết yêu cầu. Cả thành phố đã sôi lên rồi. Tối hôm qua, giáo sư trong trường cũng đã ra bản tuyên cáo nầy.
Thầy Vũ đưa cho Nguyễn đọc:
Chúng tôi, giáo chức trường trung học... vô cùng xúc động khi nghe tin một học sinh lớp sáu trường... bị một quân nhân Hoa kỳ vô cớ bắn chết lúc 14 giờ ngày 7-12-70. Đây không phải là lần đầu tiên một số quân nhân Hoa kỳ vô kỷ luật đã xem thường mạng sống của lương dân VN. Vì vậy, chúng tôi tán thành mục tiêu tranh đấu của học sinh trong ngày 7-12-70 nhằm lên án hành động dã man của một số quân nhân Hoa Kỳ. Đồng thanh quyết nghị:
1) Yêu cầu chính quyền địa phương bày tỏ thái độ hành động sát nhân nầy.
2) Yêu cầu giới chức thẩm quyền tức khắc truy tố thủ phạm và công bố bản án cho toàn thể đồng bào biết.
3) Yêu cầu chính quyền áp dụng mọi biện pháp để những quân nhân Hoa Kỳ vô kỷ luật chấm dứt mọi hành động xem thường tính mệnh và tài sản lương dân V.N.
Tuy nhiên chúng tôi cũng không chấp nhận những hành động đáng tiếc có phương hại đến tài sản và trật tự chung.
Nguyễn mỉm cười khi đọc xong. Thầy Vũ hỏi:
- Sao em cười?
- Dạ vì các thầy cẩn thận quá. Trong kháng thư, em viết:
Hằng ngày, một số đông lính Mỹ vô kỷ luật đã phá phách tài sản của đồng bào. Tụi bạn đòi bỏ chữ VÔ KỶ LUẬT vì như vậy là có ý bào chữa cho thanh danh quân đội Mỹ. Em bảo không nên vơ đũa cả nắm. Bây giờ, đọc tuyên ngôn của các thầy, em mới thấy mình còn sơ hở.
- Em đã trải qua những biến động tâm cảm nào vậy Nguyễn? Em nói như một ông già.
- Bây giờ em lớn bằng tuổi em, cộng tuổi một buổi chiều dài nhận rõ mặt anh em, và 12 tuổi xác chết. Thầy tha lỗi, có phải các thầy định phân biệt hai loại đồng bào. Các thầy bảo: Này nhé, chúng tôi nói rõ nhé, chúng tôi long trọng xác nhận trước quí vị, là chúng tôi chỉ phản đối sự xem thường mạng sống của lương dân, còn đối với bọn cộng sản, bọn sống với cộng sản, bà con thân thuộc với cộng sản, nộp thuế tải thương cho cộng sản, thì, xin các ông tùy ý.
- Em tàn nhẫn. Có lẽ em khó hiểu nổi tâm trạng lớp người trước. Tâm hồn thầy như một mặt ao, dấu dưới bóng tre già. Viên sỏi vô tình nào rơi xuống cũng gợn những vòng xao động. Cực nhất là đối diện tra hỏi mình. Biến cố hôm qua là viên sỏi ấy.
Vĩnh và một người bạn lạ đèo Honda vào trường. Mặt mày hớn hở và sạm nắng. Dựng vội chiếc xe trên cát lún, Vĩnh chạy về phía thầy Vũ.
- Chúng em đã quấy động cả xứ. Thầy coi mấy số báo ở Sài gòn:
Đứng trước cổng trường chờ giờ học bị Mỹ kiều bắn vỡ sọ. Học sinh khiêng xác đồng môn diễn hành khắp phố.
Đoàn biểu tình võ trang gậy gộc gạch đá, đòi đập phá các cơ sở quân sự Hoa Kỳ ở thị xã. Quân Mỹ cấm trại 100%.
Sinh hoạt tê liệt. Tình hình nghiêm trọng. Biểu tình tiếp diễn dữ dội. Nhiều xe Mỹ bị đốt. Cảnh sát dã chiến được tăng cường từ Sài gòn ra.
Theo tin bổn báo đặc phái viên gửi về, mặc dầu cảnh sát dã chiến bắn hàng trăm lựu đạn cay để giải tán biểu tình, nhưng nhiều quân xa đồng minh đã bị học sinh biểu tình đốt cháy, những người Mỹ và Đại Hàn ngồi trên xe bị ném đá dữ dội.
Một khách sạn bị đập phá. Trực thăng được huy động để di tản lính Mỹ lánh nạn. Tổng hội sinh viên Sài Gòn phát động tuần lễ chịu tang.
Thầy Vũ trả mấy tờ báo, hướng về phía Vĩnh:
- Các em thành công trên tro tàn và gạch vụn. Nhưng có chắc thành công không?
Người bạn lạ của Vĩnh cướp lời:
- Chắc chắn. Không phải chúng em tranh đấu cho một mình xác chết nầy.
Nguyễn gay gắt hỏi:
- Có phải ý mầy không Vĩnh? Từ đêm qua, tụi bây chở xác thằng Minh về bỏ nằm đây. Không có lấy một nén hương. Không nói với tang gia lấy một lời an ủi. Tụi bây đèo nhau trên Honda, đến, nhìn, chạy xuống phố hò hét, rồi khi thấy hào khí hạ, lại trở lên nhìn lấy hứng.
- Mày xuyên tạc. Thằng Minh chỉ là một cá nhân. Từ hôm qua đến nay, mình đòi cái gì? Đâu phải đòi phép tiên cho thằng Minh sống lại. Nó chết, yên phận nó. Nhưng mình làm thế nào để nhờ nó không có một cái chết tức tưởi thêm. Muốn thế phải làm gì? (Vĩnh hướng về phía thầy Vũ) các thầy trách tụi em bạo động. Em đọc kỹ tuyên cáo của các thầy. Các thầy chỉ tán thành mục tiêu tranh đấu của tụi em, và không chấp nhận những hành động đáng tiếc có phương hại tài sản và trật tự chung. Thưa các thầy cực lực lên án, đồng thanh quyết nghị, nhưng cuối cùng nhỏ nhẹ yêu cầu. Các thầy có thể thành công, nhưng tụi em? Xin yết kiến Đại tá tỉnh trưởng. Rất tiếc. Đại tá bận. Xin yết kiến ông cố vấn: Sorry. Xin gặp ông phó: Chú muốn gì? Thỉnh nguyện thư hả? Họa hoằn lắm cái chết thằng Minh mới được đăng nơi trang ba, trong mục Xe Cán Chó.
Nguyễn không kém giận dữ:
- Mày hãy lấy gương mà soi. Dám nói thẳng đi. Mày say mê hò hét hay nhiệt tình với bạn? Bây giờ lo liệu xác thằng Minh sao đây? Hãy tìm cách giúp đỡ thân nhân khâm liệm tống táng.
Người bạn Vĩnh lên tiếng, rắn rỏi:
- Không chôn cất gì hết. Để đó. Chôn xong là xẹp hết.
Nguyễn trừng trừng nhìn người bạn Vĩnh:
- Cái xác đã bắt đầu bay mùi. Ai xa lạ với ngôi trường này không có quyền chen vào việc tẩm liệm một học sinh trường nầy. Chúng ta tranh đấu vì lý tưởng tuổi trẻ, không phải bọn buôn xác. Vĩnh, tao biết rõ mày sửa năm sinh sau khi thi hỏng Tú tài. Có cứng hãy đứng đầu gió. Mầy phải để yên xác chết. Để yên cho thằng bé về Trời.
Vĩnh thoạt bậm môi, rồi xuôi tay bỏ ra phía để xe. Ngoài đường, còi hụ uất nghẹn và loa phóng thanh tuyên bố giới nghiêm Hai bốn trên hai bốn.

*

Xe tang đi trong mưa rả rích và gió buốt. Trên chiếc GMC quan tài của Minh nằm dọc theo lòng xe. Chỉ có ông ngoại, người cậu và một bà dì được cảnh sát thông báo và đón đi đưa tang. Bên này có Vĩnh, Nguyễn, Sum, Trân và thầy Vũ. Xe quân cảnh mở đường, tiếp đến xe Đại tá tỉnh trưởng, xe tang và sau chót xe cảnh sát dã chiến. Mặt trời chưa mọc. Phố xá nằm chết trong giới nghiêm. Tiếng động cơ gầm gừ át tiếng gió thổi và giọng khóc nỉ non. Ra khỏi ngả ba, xe dẫn đầu rú ga. Xe cảnh sát ở sau hụ còi. Chiếc GMC lại gầm gừ rồi đột nhiên lao mạnh. Mọi người ngồi hai bên quan tài suýt ngã, cây nến trên nắp quan tài gẫy đổ tắt lịm, ông ngoại Minh định cúi xuống thắp lại nhưng xe dằn mạnh khiến ông cụ sợ sệt bíu hai tay vào thành xe.
Xe dừng ở một nghĩa địa ngoại ô. Toán cảnh sát dã chiến và quân cảnh nhảy xuống đến vây quanh xe tang. Tất cả xúm nhau khiêng quan tài ra gần huyệt. Ông tỉnh trưởng, ông chủ tịch hội đồng tỉnh, viên cố vấn trưởng đến gần, chia buồn lần cuối với tang gia. Mưa vẫn rơi rả rích. Gió vẫn thổi bay tạt hàm râu trắng của ông ngoại. Ông tỉnh trưởng đăm chiêu. Nét mặt cố vấn thành kính, mắt hư không. Khi hạ huyệt, ông tỉnh trưởng hỏi:
- Cậu nào đọc điếu văn?
Vĩnh định tách khỏi đám nhưng rụt rè do dự, đưa mắt nhìn Lý. Lý nhìn thầy Vũ. Thầy Vũ chưa biết chỉ ai, chợt thấy Nguyễn lấy tay che mặt. Thầy nói:
- Thưa Đại tá, có em Nguyễn, đại diện học sinh đọc điếu văn. Qua phút bối rối, Nguyễn tiến đến trước huyệt. Anh bắt đầu nói, một mình:
Minh em,
Anh biết nói gì bây giờ.
Anh chưa biết mặt mũi em.
Anh chưa biết cha mẹ em.
Anh chưa thấy khu vườn lá xanh và mái nhà nhỏ nơi em chào đời.
Anh chưa thấy con đường làng dẫn em ra ngôi trường đầu tiên để bập bẹ mấy tiếng A B C làm vốn liếng tìm hiểu nét đẹp cuộc đời.
Anh chưa tưởng tượng nổi cảm tưởng của em, khi ngỡ ngàng bước chân vào trường trung học, hí hửng trả lời My name is Minh khi cô giáo hỏi What's your name?
Anh chỉ biết em, nằm treo trên đó, óc đổ trên trang sách, tay víu vào đất mẹ.
Anh chỉ biết em, nằm queo trên sàn xe, lang thang dạo chơi khắp phố phường ngập ngụa tiếng la ó phẫn nộ lẫn tiếng hò reo tở mở.
Anh chỉ biết em, khi em đã thành đề tài trên đầu môi chót lưỡi.
Nghĩa là anh biết em quá trễ, khi em vĩnh viễn xa đất mẹ xa sách Anh văn, xa mái tranh và cánh đồng, xa mẹ cha cô dì chú bác...
Minh, tất cả mọi người thương tiếc em.
Nguyễn trở về chỗ cũ. Mọi người không ai nói với ai lời nào, lẳng lặng vốc đất ném xuống huyệt rồi trở về xe. Thầy Vũ nắm tay Nguyễn. Nguyễn nói nhỏ:
- Thưa thầy.
- Gì hở Nguyễn?
- Hôm qua, thầy bảo tâm hồn thầy như mặt ao dấu dưới khóm tre già?
- Ừ, rồi sao?
- Thầy còn may mắn hơn em. Viên sỏi vô tình nào đó còn làm thầy xao xuyến. Ánh trăng lọt qua khe lá còn làm mặt nước gợn sóng vui. Còn em, đầu óc rỗng không như mộ huyệt. Biết bao nắm đất ném xuống, do những người chí tình. Tâm hồn em vẫn trơ trơ.
- Nguyễn, em không giống các bạn rồi! Hãy xem tất cả, tất cả như cơn mưa rào, làn gió thoảng, chút nắng rớt. Đừng để cho rã rời, hoài nghi.
Nguyễn không trả lời. Thầy Vũ không nói thêm. Xe lại chạy trở về phố trong gió lạnh./.

[Bách Khoa, số 346, 1/6/1971].

-----------------------------------
* nguồn: vanchuongviet.org 04.07.2012




Thứ Hai, 2 tháng 7, 2012

nhận lấy âm thanh thở mỗi ngày - phạm mạnh hiên




1.
đêm quá dài
của ngày chủ nhật chín nẫu
thở xuống khoảng trống vời vợi
thở vào khuôn mặt đang cạn nắng
thở những vệt bùn hiến sinh đỏ tươi trong gió
khoảnh khắc sống đôi khi tôi thấy mình vắng mặt
hiện hữu lửa đen của đêm

tiếng gọi vỡ nuốt xuống đường cống
tiếng gọi vỡ phát âm nứt dưới trán
ánh mắt trong làn nước xám tình yêu
và em chỗ trú ngụ kiếm tìm
tôi tiến sát mọi thứ như cơn mê úp mặt vào
thở từng đêm thở mỗi ngày
tôi chờ tóc mềm nhão dính tái sinh
tôi chờ nơi không giới hạn rỗng buốt hiện ra
được lau ấm phía sau những vô hình chia cắt
tôi lúc nào cũng chìa ra ý nghĩ đứt gãy
ngậm chặt trong thời gian lạnh cứng
muốn uống cạn em như uống vào mình
sự bình yên của nọc độc

cả đêm tôi thở thật lãng mạn
cả đêm trong tư thế người đàn ông đang trôi
trong giấc mơ rượt đuổi loài bướm biển phù du
vụt nổ tung ánh sáng hoang tàn lên chùm ngón tay em
tôi dò tìm ngày thăm thẳm

2.
và nếu em đang tới một chỗ ngồi
hơn cả lặng im hơn cả bóng tối
từ đâu bến bờ khác

chậm lại khoảnh khắc tro than của chùm sao đổ xuống
giọng nói chìm ương lạnh
cầm lấy màu sắc mỏng tang
cầm lấy lớp muối đen lấp lánh
trong em vùi ấm hạt mầm vừa mở

thân xác sẽ đánh mất vào ngày xám xịt cúi thấp
nhưng em cứ xé vụn tôi chút ánh sáng bị múc cạn
dưới mầm xanh ký ức vĩnh hằng
1-2-2010
--------------------

* nguồn: sangtao.org



lá thư tháng 7 - cô Vương Thúy Nga


 Các em thương mến,

Tháng 6 vừa qua ở Houston là một tháng rất sôi động trong "gia đình Cựu học sinh Cường Để - Nữ Trung Học và liên trường Qui Nhơn" của những ngày xưa thân ái. 
Ngày Họp Mặt năm nay làm lớn hơn mọi năm, với chủ đề "15 năm nhìn lại" có nhiều khách mời và khách phương xa đến, không khí hai ngày tiền hội nghị và đại hội rất sôi nổi, vui nhộn và thắm thiết tình Bằng Hữu, nghĩa Thầy Trò.

Các em cựu học sinh Nữ Trung Học ngày xưa, bây giờ đã trên dưới 50 rồi nhưng thật trẻ trung, nhanh nhẹn và duyên dáng trong những đơn ca, vũ điệu... dù có những em lần đầu tiên lên sân khấu, thật là cảm động được nhìn ngắm các em trong các tiết mục ấy, mình như được sống lại những ngày xưa khi trường tổ chức "văn nghệ bán vé" ngoài rạp, thầy trò lăng xăng lo lắng...

 Mình chỉ nhắc lại chứ không cần tường thuật vì đã có rất nhiều hình ảnh, bài vở đưa lên mạng đề cập đến rồi. 

Nhân tiện mình xin được gởi lời cảm ơn đến tất cả các em đã gởi thư, thăm hỏi, khuyến khích, bày tỏ quan điểm với những bài viết, những "lá thư "của mình...

Mình không đủ thời gian trả lời kỹ càng cho từng em một, thật là rất tiếc, nhưng mình rất "enjoy" khi đọc, các em có những ý tưởng rất hay, rất thú vị, phần nhiều là hay hơn những tư tưởng của mình khi viết xuống những dòng đó...

Mình rất tự hào vì các em; ngày xưa là học trò nhưng hôm nay mình vẫn có thể rút ra những bài học từ những ý nghĩ, những lời nói, những câu văn... của các em, mình nói thật đó! 

Đặc biệt là tấm lòng của các em đối với mình, đã gần nửa thế kỷ, từ những cô bé nữ sinh 15,16... đã trở thành mẹ của nhiều đứa con rồi mà các em vẫn dễ thương, lễ phép, dịu dàng... đối với thầy cô giáo, giờ đây là những ông bà già có khi lụm khụm, chậm chạp, vụng về...
 
Xin lỗi đã dông dài... Bây giờ mới là phần chính của lá thư tháng Bảy: mình hay viết nhưng viết không hay nên những lá thư của mình gởi cho các em không có gì đặc sắc; mình nhớ lại một chuyện ngắn của Frantz Cohn cũng có nhan đề là "Lá Thư" nhưng cảm động vô cùng, kể các em nghe nha!

Sau hơn 20 năm chung sống, một hôm vợ của Peter bảo anh rằng: Em yêu anh nhưng em biết có một người phụ nữ khác cũng yêu thương anh và muốn được ở bên cạnh anh. Anh hãy mời người ấy đi ăn và đi ciné tối thứ bảy này đi nha!
Peter quá ngạc nhiên khi nghe vợ nói nhưng khi cô ta bảo rằng người phụ nữ ấy chính là mẹ anh thì Peter thật hoan hỷ, cảm ơn vợ rồi phone cho mẹ ngay.

Mẹ chàng đã sống 1 mình từ 19 năm nay còn Peter thì bận bịu với công việc và gia đình nhỏ của chàng nên ít khi đến thăm mẹ; vì vậy khi nghe Peter mời đi ăn tối, bà rất ngạc nhiên và lo lắng:
- Con có khỏe không? Có gì không ổn phải không con?
- Dạ không thưa mẹ, con vẫn khỏe, con chỉ muốn 2 mẹ con mình ăn tối với nhau thôi mà!

Tối thứ bảy Peter lái xe đến đón mẹ; Peter thấy bà mặc bộ áo đẹp trang trọng, tóc uốn lại cẩn thận và trang điểm nữa, trông bà rạng rỡ hẳn lên.
Bà cười nói với Peter: mẹ khoe với các bạn là con trai của mẹ mời mẹ đi ăn tối, các bà ấy rất ngưỡng mộ về điều này!
 
Mẹ chàng rất tự hào khi khoác tay chàng buớc vào nhà hàng sang trọng ấm cúng và nổi tiếng với các thức ăn ngon; lúc Peter xem thực đơn, bà mỉm cười nói: nhìn con lúc này, mẹ nhớ ngày xưa mẹ luôn là người xem thực đơn và chọn món ăn thích hợp với con.
 
Peter dịu dàng trìu mến: bây giờ con làm thay mẹ!
 
Hai mẹ con say sưa trò chuyện suốt buổi tối; khi Peter tiễn mẹ về đến trước cửa nhà, bà nói: Lần sau, chúng ta lại ăn tối với nhau nha, nhưng hãy để mẹ mời con!

***
 
Chưa được 1 tuần sau, mẹ Peter qua đời vì một cơn strokes. Ít lâu sau, Peter nhận được một phong bì trong đó có bản copy hóa đơn đã trả tiền trước ở chính nhà hàng mà Peter đã mời mẹ đến ăn tối; kèm theo hóa đơn là lời nhắn của mẹ:
 
Con trai thương mến,
Mẹ đã trả tiền trước cho bửa ăn này. Mẹ không chắc có thể cùng con trở lại đây lần nữa, nhưng mẹ vẫn trả tiền cho 2 phần ăn - dành cho con và con dâu của mẹ - Chắc con không hiểu hết được rằng buổi tối hôm đó có ý nghĩa như thế nào với mẹ đâu! Thương con nhiều.

Câu chuyện kết thúc với lá thư tuyệt vời chỉ gồm mấy dòng thôi, phải không các em?
 
Thương mến chúc các em và gia đình một cuối tuần thật vui.

cô Vương Thúy Nga

--------------------------
* nguồn: nthquinhon