Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2012

gửi một khi nào - nguyễn lương vỵ

I.
Mần thơ gửi một khi nào
Đã xong một cuộc tào lao
Thiên tặc gọi thì phải dạ
Địa phủ đón thì phải chào
Chào cái thây về cát bụi
Mừng cái phách hẹn trăng sao
Thiệt tình vẫn còn tiếc lắm
Cái em ngần mộng phỗng phao…
 
II.
Phỗng phao một cuộc rong chơi
Nồng tanh thơm thảo một đời
Búng huyết sưng âm mộ địa
Giọt tinh rộ sắc luân hồi
Một niềm thương không đủ gọi
Bao nỗi nhớ chẳng kịp bồi
Muôn nẻo trùng sinh náo nhiệt
Dè đâu ta chết lâu rồi…
 
III.
Chết lâu rồi giọt nắng phai
Giọt mưa tan đàn nuối dài
Quen lạ hình hài nhớn nhác
Cuồng mê hồn cốt miệt mài
Ma đấy hử ta đấy hử
Ta là ai ma là ai
Chậc lưỡi trọn đời lầm lũi
Cầu bơ cầu bấc hỏi hoài…
 
IV.
Hỏi cứ hỏi hú cứ hú
Quỳ xuống nhìn đêm mới lú
Huyền hồ một búp trăng non
Trắng muốt hai bờ ngực nhú
Cỏ ngất âm đang tượng thanh
Em lừng hương vừa hé nụ
Hú cứ hú quỳ cứ quỳ
Rưng rưng nắng khuya thầm nhủ…
 
V.
Mần thơ gửi một khi nào
Hắt hơi thở một cái phào
Xuôi tay vui nhé trời đất
Nhắm mắt sướng chưa thấp cao
Bao nhiêu nợ ợ cho sạch
Bấy nhiêu tình ói cái ào
Chẳng có đếch gì phải hỏi
Chờ nhau cái lạnh thấm vào…
 
VI.
Chờ nhau cái lạnh mênh mông
Phách bay rờm rợp xa trông
Vỗ cái không bồng cái rỗng
Động cái bóng tịnh cái mồng
Trồng một rừng âm thánh thót
Gieo hai núi nhạc bềnh bồng
Thiệt là sang thiệt là bảnh
Ma ta độc ẩm vui không?!…
 
 VII.
Vui chẳng vui sầu chẳng sầu
Chỉ thèm ôm hết sắc màu
Đỏ au từ muôn kiếp trước
Hồng tươm tự thuở sơ đầu
Nâng giấc em tràn mộng ảo
Đỡ hồn ta khẳm chiêm bao
Rồi sao nữa rồi sao nữa?
Thì mần thơ tiếp chứ sao!!!…
 
9.2011

Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2012

cây cỏ vô ưu [bài1] - võ chân cửu


“Tôi” là Ai?

Mở đầu cho đợt tản mạn này định lấy tựa là “Vô ưu Hoàng Ngọc Tuấn”, Chợt nghĩ, chúng tôi có một tính chung là ít thích ai nói về mình. Vậy thì cứ chọn đại những biểu từ có nghĩa chung chung nhất…

Một chiều cuối hạ đầu thu đâu đó, Hoàng Ngọc Tuấn (HNT) về nhà đưa cho con tôi mấy chiếc bánh và một cành hoa nhiều nụ rồi lẵng lặng lên chỗ của anh trên gác. Cháu Ty, con gái thứ 2 của tôi, năm đó chừng 14 tuổi. Cháu cầm nhành hoa vô đưa cho mẹ, không nhịn được cười, la lên: "Chú Tuấn lần đầu mang về cái này. Mẹ xem, hình như chú có “bồ”!
Vốn ở trong Gia đình Phật Tử ngày xưa, vợ tôi lật qua lật lại nhành hoa hồi lâu rồi bảo: "Hoa “vô ưu” đó con. Hãy đem cắm vào bình.
Thanh sạch

Loài hoa này vốn ở Ấn Độ, ở Việt Nam chỉ trồng được ở một số nhà chùa. Hoa mọc từng chùm, cánh phơn phớt tím đào. Nhưng có lẽ do truyền thuyết là nó ở bên cạnh Thái tử Tất Đạt Đa vào thời khắc ngài thành Phật nên ở Việt Nam, những chùm hoa lành nhiều nụ đều được gọi là hoa vô ưu. Cây Asoka (Bồ cạp nước) có gốc từ Nhật Bản, thân cây lớn, hoa vàng từng chùm phủ cành. Nhưng có lẽ vì thấy nó thanh sạch nên nhiều người cũng phong cho nó là hoa “vô ưu”!
Sự cố gây ngạc nhiên của HNT xảy ra vào khoảng đầu thập kỷ 1990. Công nghệ Internet mới bắt đầu phổ biến ở Sài Gòn. Tên tuổi HNT, nhà văn ở Sài Gòn trước 75, được nhiều người yêu mến. Nhưng bạn bè quen biết lại khá ngạc nhiên khi đọc những dòng cậy đăng của anh trên báo Tuổi Trẻ. Anh nói rõ: HNT hiện đang sống ở Việt Nam, không có “liên quan” gì đến bút danh trùng lập được ký ở một tờ tạp chí văn nghệ và trên mạng ở nước ngoài (HNT này ở Australia).

Nghĩ cũng buồn cười. Nhưng chỉ những người làm văn nghệ trước 75 đang còn ở Sài Gòn, phải kiếm sống nhờ các khoản nhuận bút từ những bài dịch, hay bài viết vô thưởng vô phạt thường xuyên được in báo, thì mới rõ được nguồn cơn. Để gây hiểu lầm, tuyên huấn chỉ xuống triệt đường kiếm sống là rớt mồng tơi!
Với sự gia tăng của lĩnh vực tin học, việc ngồi dịch các mẩu bài từ báo nước ngoài chuyển về theo đường nhanh nhất (đặt mua lại từ sọt rác các chuyến bay đến Tân Sơn Nhất), phải âm thầm lụn bại. Nên HNT dần dần chuyển sang viết nhiều hơn về bóng đá, hoặc cho các chuyên mục “cười”. Nhưng sau lần phải “xưng danh” ấy, anh lại ngày càng “vui vẻ” hơn! Tuấn nổi tiếng là một người lập dị và khó tính. Thường khi vào các quán bia bình dân, anh chỉ ngồi một mình (lúc này bạn bè Việt Kiều chưa về nước, nên mấy khi anh được kéo ghế trong nhà hàng!). Bạn không hẹn, hoặc người nào đó rủi “mến danh” tự động xách ly qua hỏi chuyện, thì sau cái cụng xã giao, anh sẽ đứng dậy qua chỗ khác ngồi lặng lẽ.
Sau khi đem về chùm hoa vô ưu, anh lại “lên lịch” gặp nhau mỗi tuần tại quán 81 (Căng – tin Hội văn nghệ sĩ. Hoặc khi bất ngờ gặp các “bạn bia” hợp ý - như các nhà thơ Phù Hư, Nguyễn Lệ Tuân (nay đã mất), hoặc Trần Từ Duy (lúc đó còn hàn vi), thì Tuấn vẫn có thể ngồi uống dăm ba chai, nói cười xả láng. Cung cách mới này được HNT giữ đến ngày cuối đời.
Năm nay (Nhâm Thìn) nhuần 2 tháng 4, nếu không thì đã sắp đến ngày các bạn kỷ niệm anh giã biệt cuộc đời (4-6 âm lịch). Điều gì đã tạo nên sự thay đổi trong con người Tuấn? Nhớ lại chùm hoa lạ anh mang về, tôi nói với nhiều người chơi thân: "Chắc là Tuấn bắt đầu “vô ưu”! Các cây bút tự do thường ít vướng vào lễ nghi thánh thần. Nên chùm hoa ấy chắc là của một thiếu nữ mới đi chùa về trao anh!

Câu hỏi cũ

Điều đó có lẽ đúng. Những người chơi thân với Tuấn dần dà đã biết trong “thời khóa biểu hàng tuần của anh” có một ngày khá bận rộn. Những cặp nhân tình lúc này thường phải chở nhau về tận Biên Hòa. Ở đó các khách sạn sớm “đổi mới”, không bắt khách thuê phòng phải xuất trình giấy “hôn thú”! Vào ngày đó anh mới được cỡi lại xe Honda (của người yêu), chứ thường ngày vẫn trên chiếc xe đạp trành! Ai cũng mừng là Tuấn bắt đầu “vô ưu”, Từ chỗ một nhà văn “Best seller”, anh đã bỏ được mộng thai nghén, sáng tác văn chương! Mà viết ra (thực sự là sáng tác), muốn đăng được lên báo hay in cũng không phải dễ. Lý lịch, tư tưởng của anh ra sao? Viết bỏ ngăn kéo lại càng thêm mệt. Và tốn sức. Lại rủi lúc vui miệng tiết lộ, có một cò mồi nào đó vốn là người quen biết cũ trong giới, nay muốn “tiến thân”, thì lại càng thêm mệt. Vậy thà tạm ngưng hay bỏ quách. Tôi cũng vậy!
“Viết cho ai, viết để làm gì?”. Câu diễn đạt vốn có tự muôn đời trong văn chương nay lại sắc mùi “quan điểm”. Câu khẳng định của “thần tượng” J.P. Sartre trước kia mang mùi triết học: Tôi tư duy là tôi tồn tại! Nhưng vào thời văn nghệ độc quyền, câu nổi tiếng của một nhà thơ “lớn”: Tôi là ai giữa mùa thay đổi ấy? lại muốn bạn phải “thức tỉnh”: "Chọn một dòng hay để nước trôi. Muốn có tem phiếu, anh phải là một “con người mới”…
HNT là ai? Giới văn nghệ Miền Nam nếu không ưa nhau thì chỉ ít gặp nhau. Sự cãi cọ về “thẩm mỹ”, “trường phái” xảy ra trên mặt báo có khi chỉ là chuyện giỡn, gặp nhau vẫn vui vẻ, chơi chung. Nhưng sau 75, tất cả những gì gọi là văn chương đều bị đánh đổ sập, “văn học Miền Nam” chỉ là một cõi chợ trời – như khẳng định của một viên chức làm “nhà phê bình” tại các lớp học “nâng cao tư tưởng” dành cho văn nghệ sĩ. Mất hết tất cả rồi, thôi hãy để chôn vùi, việc gì tự những người trong cuộc lại có cái nhìn lệch lạc. Nhà văn (người sáng tác nói chung) thường dễ cảm xúc khi có ai đó nhìn không đúng về mình. Có lẽ điều đó đúng nên có một lần tôi và các bạn thân đã chứng kiến HNT nổi giận. Hôm đó là ngày làm tuần của thân sinh tôi (năm 1987) tại nhà. Một bạn là nhà văn nổi tiếng với nhiều truyện về bản thân “lao công đào binh”. Sau mấy cốc bia làm ngà ngà, anh buộc miệng “nhận định” HNT chỉ là nhà văn của “tuổi mới lớn”. Bất ngờ từ tay Tuấn, một ly bia được ném vào tường, vỡ toang. Anh em vuốt giận cả 2 cây bút khác “trường phái”. Rồi thôi. Tuấn chỉ lầm lì ngồi đốt thuốc củi tới khi tan hàng.

Bóng thời gian…

HNT nổi tiếng là một nhà văn của giới tuổi trẻ. “Tuổi mới lớn” cũng là tuổi trẻ! Nhưng tuổi trẻ lại có nghĩa là những gì tươi đẹp nhất và không bị giới hạn bởi các khung. Chỉ là nhà văn của “tuổi mới lớn” có khi lại không phải là nhà văn, theo nghĩa người vốn có những ưu tư về thân phận con người. Để giải quyết “vấn nạn” ưu tư này, nhiều cây bút đã lần lượt chọn theo đường tôn giáo, hoặc “ca tụng xác thịt”, tóm gọn là “đạo” và “dục”. Nhà văn của tuổi trẻ HNT ra sao? Nét đẹp nào của nhà văn trên cõi trần gian? Tìm câu trả lời này thật khó.
Cuộc đời lại có những diễn biến khó ngờ. Mới tháng 5 vừa qua, Trần Quốc Định nhắn tôi và Phạm Việt Cường, Phù Hư - những bạn thân giai đoạn cuối đời HNT, đến để anh trao lại mỗi người một tập truyện “Ở một nơi ai cũng quen nhau” -bản dành cho tác giả- mới được nhà xuất bản Thời đại liên kết với một công ty văn hóa phẩm tái bản. Phạm Chu Sa là người làm việc cho công ty liên kết mới tung ra loạt sách này, với 4 tựa sách của HNT, Từ Kế Tường, Đinh Tiến Luyện và Đoàn Thạch Biền. Sách in theo loạt “Pocket book”, gáy dán keo, mỗi bìa trình bày theo mô típ in hình một nữ ca sĩ - tài từ Hàn quốc. Ngoài bìa, tên tác giả, các chữ Tuấn, Tường, Luyện, Biền được in khá lớn. Tuổi mới lớn vẫn thường thích các truyện diễn tả cảm xúc “mới biết yêu”. Và các nhà làm sách qua “nghiên cứu thị trường” cứ nghĩ đây là các sách sẽ bán khá chạy. Nhưng, sách chỉ in 1000 bản, mà nghe đâu không được tiếp nhận nồng nhiệt lắm. Phạm Chu Sa sau đó cho biết: ngay cả các sinh viên mới tốt nghiệp đang làm trong công ty liên kết, hiện tại cũng không biết HNT là ai. Hay tại thiếu công đoạn PR (lăng xê trên báo)? Nhiều người đọc và cây viết mới sau đó đã nói với tôi: Tuổi trẻ bây giờ sống khác xưa, suy nghĩ khác xưa. Hơi đâu ngồi mơ mộng, tưởng tượng như lứa các anh. Vậy họ thích gì? - Dâm loạn? bạo lực? như “bóng đè”. Qua một bài nghiên cứu trên mạng về sách Việt ở Mỹ, tôi nghe nói ở hải ngoại, sách thuần văn học cũng bán rất khó. Người mua chỉ thích các sách tạo “Xì căng đan” về chính trị, hoặc hồi ký, đời tư của các chính trị gia, tài tử nổi tiếng.
Nghĩ lại cũng buồn. Tôi tự an ủi: giá như sách trước 75 in lại theo kiểu tuyển tập hay toàn tập, đóng bìa cứng, dành cho các nhà sưu tập, người lớn tuổi muốn lưu giữ lại một thời đã mất. Thì có lẽ sẽ bán dễ hơn.
Nhiều cây bút, kể cả ở trong và ngoài nước, vẫn không ngần ngại cho rằng bề sâu của các tác phẩm văn chương Việt Nam, kể cả thơ, vẫn còn rất kém so với các nước Âu Mỹ. Mặc cảm nhược tiểu, hay vì những lý do ngoài văn chương? Tôi tự an ủi mình: Trong thi ca, vì tiếng Việt là một ngôn ngữ riêng, thế giới chưa thể đồng cảm qua bản dịch được.

Câu trả lời

“Tôi là ai”. Tình cờ lật trang cuối cuốn sách mới tái bản của HNT, tên truyện “Ở một nơi ai cũng quen nhau - OMNACQN” cũng được chọn làm tên sách. Những dòng cuối truyện, HNT đã tự trả lời:
"… Có một người trong những khi thoát ra khỏi sự ào ạt của đời sống, muốn chụp bắt lại nguyên vẹn hay một phần nào quá khứ của hắn, những kỷ niệm tươi đệp hay buồn bã. Một người mà trí nhớ khốn khổ của hắn rất lờ mờ đến nỗi mỗi khi muốn nhớ lại điều gì, hắn chỉ nhớ những chi tiết vô vị nhất, còn bao nhiêu chuyện quan trọng hắn đều quên hết cả. Thế mà lúc nào hắn cũng ao ước được tìm lại hình ảnh của bạn người thân thiết với hắn, của chính hắn, trong khu vườn cỏ dại. Người ấy là tôi.
Tôi là một người mà hồi đó nếu ai có muốn tìm gặp, xin cứ đi vào khu vườn cỏ, đến quán cà phê vào lúc ban đêm và hỏi bất cứ một người nào ở đấy:
- Anh có thấy một thằng người Huế, hơi gầy, tóc dài không chải, áo quần bê bối, miệng hay hát những câu kỳ cục, thường hút một thứ thuốc lá hiệu Lạc Đà, hay bó gối ngồi một mình với dáng cô độc buồn bã. Nhưng thật ra hắn không có gì buồn cả đâu, đôi khi hắn sung sướng kinh khủng mà vẫn cứ mang bộ mặt thảm hại ấy như thường. Anh có biết thằng đó không?
Chắc chắn là người nào đó cũng sẽ trả lới bằng một cái gật đầu, vì họ đều quen biết hắn, cũng như ở đây mọi người đều quen biết nhau.
(1969)
Cũng với tựa sách này, năm 2005 chị Đặng Hòa Bình, một người đọc mê văn HNT đã tự bỏ tiền ra in tập sách tại Mỹ dưới nhãn hiệu NXB Hòa Bình, do Hoàng Xuân Sơn viết lời tựa. Hai tập OMNACQN in tại Mỹ và Việt Nam khác nhau vì các truyện do người sưu tập chọn ra tùy tư liệu có trong tay (37 năm đã có nhiều thất tán). Trước 1975, chị Hòa Bình đã tình cờ gặp được NHT, và làm quen với nhà văn. Dù chưa nói nhiều chuyện, nhưng người độc giả đặc biệt này vẫn giữ hình ảnh và những trang văn của người mình quý mến. Gặp chúng tôi tại Sài Gòn tháng 12-2011, Hòa Bình cho biết sẽ tiếp tục để in thêm một tập sách thật xứng đáng của HNT.
Khó mà diễn tả được hạnh phúc của một nhà văn từng tự hỏi “Tôi là ai?”.
[còn nữa]
---------------------------
* nguồn: blog nguyenmienthao

miền "cụp lạc" [kỳ 10] - nhật tuấn

KỲ 10

 

 

Gã cười mủm mỉm, quả thực ngoài nỗi khát khao được ôm ấp người đẹp, gã chẳng chút mặc cảm có lỗi nào với anh chồng. 
- Chuyện với cậu lẩm cẩm bỏ mẹ. Tớ đi ngủ còn hơn… 
Hắn ngáp một cái thật dài rồi quăng mình xuống giường. Tối lâu rồi, kiểu này hắn làm một giấc tới sáng mai. Gã không lo nằm đất, chỉ ngại không biết hắn có giấy tờ gì tạm trú không? Gã đã hình dung trước sự nạt nộ của lão gác dan nếu dám qua mặt lão, lờ tịt cái chuyện cho một người ở trọ qua đêm. Gã lay người hắn: 
- Này, anh đưa tôi chứng minh nhân dân đi báo tạm trú.
Hắn mở mắt nhìn gã đầy riễu cợt:
- Chứng minh cái con cặc… Lão gác dan đã đớp của tớ một tờ xanh rồi, khỏi bẩm báo gì hết. 
Hắn xoay người vào tường ngủ tiếp mặc gã loay hoay dọn dẹp tàn dư bữa rượu. 
Sáng hôm sau thức giấc ở dưới đất, gã đã không còn thấy tên giả hành khất nữa, hắn biến mất cùng với bữa rượu tối qua như thể những thứ đó chưa hề xuất hiện trong căn phòng gã.
 “Đúng vào lúc luồng cảm khoái dâng lên ào ạt trong các mạch máu làm gã nhói đau, vòng tay trần nõn nà của người đàn bà ghì chặt quanh đầu gã, một tiếng nổ khô ngắn vang lên và cái hình ảnh cuối cùng gã nhìn thấy ở trên đời là nụ cười âu yếm, vấy máu của người đàn bà chỉ vừa mới đây thôi đã ban tặng cho gã cái hạnh phúc tuyệt đỉnh chưa bao giờ gã được nếm trải…".
Trang bản thảo dịch dở của gã nằm chơ vơ trên mặt bàn gắn mảnh giấy nhỏ, có dòng chữ  viết nguệch ngoạc tên ăn mày giả nhắn lại:
"Tớ đã đọc hết, cậu dịch hay lắm, bán  chất xám thế này nên lắm, khỏi áy náy lương tâm”.
Không ngày tháng, không chữ ký nhưng gương mặt rắn rỏi, đầy riễu cợt của hắn cứ hiện lên giữa các dòng chữ. Gã bực bội xé vụn tờ giấy thả cho gió bay qua cửa sổ.  Mẹ kiếp, hắn là cái thớ gì lên mặt dạy dỗ cơ chứ. Một thằng giả ăn mày lừa đảo khắp thiên hạ lại kiếm bẫm hơn bất cứ một gã hành khất thứ thiệt nào. Hóa ra đời nay “của giả” lại có giá hơn ”thứ thiệt”, chân lý phổ biến ở khắp nơi nơi.
Gã bỗng bật lên cười sằng sặc, gã vừa nhớ tới cô gái làm tiền có tên là Tình, phải rồi, ngay cả những ghì xiết, rên rỉ của em trong cái đêm hôm đó cũng là giả cả thôi. Ý định tìm gặp lại cô gái nảy ra và bám riết trong đầu khiến gã chẳng dịch thêm được dòng nào.
“Tròn em trăng trắng tay… Em qua lòa nhòa gối mộng…”, bài thơ đánh dấu đêm gã đánh mất "cái tân con trai” trở thành thằng đàn ông luôn ám ảnh đàn bà. Vậy mà từ đó tới nay chẳng thêm được bài thơ nào làm gã ngạc nhiên lâu thế ”nàng thơ” vẫn chưa trở lại.
Cái chính là không còn lên "cơn sốt chữ nghĩa” như trước kia nữa, gã lẩm bẩm, đúng thế đấy, mình không có nhu cầu. Nỗi khao khát thường trực giờ chỉ còn mong nhìn thấy người đàn bà bên kia cửa sổ. Chao ôi, ngày hôm nay dễ có đến hai mươi lần gã hé mắt nhìn sang bên đó mà vẫn chỉ thấy cái ban công lạnh vắng với những dây phơi quần áo mà gã có thể nhận ra những thứ nào là của nàng.
Chiếc váy ngắn chiều qua nàng đã mặc, chiếc quần lót đen, chiếc nịt vú… gã không thể nào rời mắt khỏi những thứ ấy để quay vào bàn làm cái việc dịch dọt muôn thủa kia. Gã đã yêu nàng rồi sao? Cái trạng thái cảm xúc này là quá mới mẻ với gã. Lòng bồi hồi, ruột gan nóng như lửa đốt, gã chẳng thể làm được gì hơn ngoài việc nằm dài trên giường, vắt tay lên trán tưởng nhớ buổi chiều qua nàng đã ban tặng gã những hình ảnh tuyệt vời của thân thể nàng. Và một lần nữa gã lại ngồi dậy, bước tới cửa sổ ghé mắt nhìn. Than ôi, cái người đang cất quần áo kia lại không phải nàng mà là người có diễm phúc được làm chồng nàng .
Nỗi buồn vô cớ trĩu nặng khi gã ra khỏi nhà lang thang qua những cửa hiệu sáng đèn mọc nhan nhản khắp các đường phố!
“Liệu về cho sớm nhé” - Lão gác dan  nháy mắt cười lúc gã đi qua cổng. Khác hẳn vẻ lầm lầm mọi ngày, tối nay chẳng hiểu sao lão bỗng vui vẻ, vồn vã.
“Tôi đã bảo mà, thỉnh thoảng anh phải rời cái “chuồng cọp” của anh xuống phố, hòa mình với xã hội, cứ ru rú trên đó không khéo người ta tưởng anh chứa hàng lậu hoặc in bạc giả cũng nên “.
 Bắt chước thằng giả hành khất, gã cũng “cắm vào miệng“ lão điếu thuốc thơm sót lại từ bữa rượu chiều qua:
“Tôi có chút công việc, về trễ một chút, bác chờ cổng nhé”.
Lão cười gật gật:
“Được, được, cứ “mèo mỡ” thoải mái, nhưng về nhớ có quà đấy nhá…".
Thói quen từ thời lão đương chức Giám đốc bền vững thế đấy, thảo nào lão chẳng mảy may hạch tội cho người ngủ lại không khai tạm trú. Tuy nhiên, trong chuyện này lão chỉ hành hạ được những “phó thường dân” như gã thôi, với các quan chức, hoặc các gia đình “có máu mặt“, lão nhũn như con chi chi. Chẳng thế lúc ông trung tá lầu một phàn nàn với lão đêm nọ ông đi vắng, thằng con trai đưa bạn về mở vidéo, nhậu nhẹt nhảy nhót suốt đêm làm mất trật tự khu tập thể, lại không trình báo tạm trú… chẳng để ông trung tá than vãn hết, lão đã xoa tay rối rít, có gì đâu, có gì quan trọng đâu, cả tuần bù đầu học hành, tối thứ bảy phải để các cô các cậu thoải mái tí chút chớ, đồng chí cứ yên tâm đi công tác, ở nhà chuyện gì đã có tôi.
Khi ông trung tá xách cặp nhảy lên xe con chạy đi, lão mới quay sang gã:
”Me kiếp, cứ khuân về lắm vidéo với trò chơi điện tử, con cái có ngày trấn lột cả bố mẹ. Cậu ấm cả mới hai chục tuổi đầu đã hiếp con ở mang bầu làm bà lớn phải đưa nó đi nạo thai đấy. Anh có biết đêm thứ bảy vừa rồi chúng nó làm trò gì không? Ôi chao ôi, tôi nhòm qua lỗ khóa thấy tô hô cả một bày như lợn cạo. Nếu không phải con cái ông trung tá ấy à, tôi gọi cảnh sát xích tay đi hết. Cứ quanh năm ông xách cặp đi công tác rồi không khéo có ngày bà ấy tậu ngay cho một cặp sừng. Anh thử để ý coi, ngoài bốn mươi rồi mà cứ phây phây,  nom tức cả mắt, cứ ba ngày lại có một con bé xách túi đến rửa móng chân, cạo móng tay, tối thứ bảy nào ông đi vắng là nhất định bà diện bộ, nhảy lên xe CUB phóng mất, gớm, đi qua chỗ tôi, cứ thơm lừng cả lên…”.
Lão kể lể với giọng cay cú của kẻ đã về hưu rồi mà dại dột không vơ vét gì trước cảnh giàu sang, mỗi ngày mỗi phất của người đương quyền. Rồi lão tự an ủi: “Ấy mình hưu trong thanh bạch nhưng ăn ngon, ngủ kỹ, chẳng lo ngay ngáy đứa nào viết đơn tố cáo. Đấy, khối anh hưu rồi vẫn phải ra hầu tòa có nhục không?".
 Tuy nhiên, cứ theo lời vợ lão phàn nàn, thời làm giám đốc lão cũng chẳng liêm khiết gì, lão cho chở lén về nhà từ cái đồng hồ treo tường cổ lổ sĩ tới cái ghế gãy mà lão xếp vào loại hóa giá, có điều hồi đó đang làm ăn theo lối bao cấp, nhà máy thua lỗ, xơ xác nên lão có vơ vét cũng chẳng được bao nhiêu. Bởi vậy bây giờ cứ nhìn đám bạn bè cũ hiện đương quyền Giám đốc mỗi ngày mỗi phất to, lão lại sôi gan sốt tiết lên:
“Từ thuở tôi đi thoát ly đến nay, chưa bao giờ lại loạn như bây giờ. So với thời tôi đang làm việc, anh Giám đốc ngày nay thật sướng hơn vua, tới cơ quan có xe con đưa rước, về nhà có ti vi, tủ lạnh, video… chẳng còn thiếu thứ gì, ngày lễ ngày tết cứ ngồi nhà nhận quà biếu cũng mệt. Tôi hỏi anh dựa theo quan điểm nào Nhà nước mình lại trao cho mấy anh giám đốc quyền ”ông chủ” tự tung tự tác như thế?  Tiền hàng nắm trong tay, tội gì nó không đút  túi. Thằng Tạo ngày xưa chỉ là quản đốc phân xưởng, lính của tôi đấy, bây giờ một bước lên ông Tổng Giám đốc, trong nhà nuôi cả chó bẹcgiê, gặp mình đạp xe ngoài phố nó cười nhạt, xì khói ra đằng đít xe TOYOTA có gắn máy lạnh, rông tuốt. Mẹ kiếp, sao đời bây giờ nó bất nhân bất nghĩa thế không biết, mình hưu một cái là chúng nó giở mặt ngay lập tức…".
Những lời lẽ lão gác dan chẳng mấy khi chui hết vào tai gã, nhưng đôi mắt lão như có hai tròng lồng nhau cứ  loe lóe những ánh rất lạ, hút hồn gã vào cái chiều sâu tăm tối ấy. Gã hoảng sợ lùi xa ra ba bước làm bà vợ lão đang đi tới đâm sầm vào lưng, chậu thau nước trong tay bà đổ tung tóe. Lão gác dan chứng kiến tai nạn vừa xảy ra với vẻ mặt của người lên cơn động kinh:
 “Có sao không? Có sao không? Xem kỹ có con cá giống nào rơi ra ngoài không? Mà anh cũng chả ra cái đéo gì cả.  Đang đứng trò chuyện tử tế bỗng dưng bật ngửa ra như ma ám thế”.

(còn tiếp)

---------------------------
* nguồn: blog nhattuan

tìm thấy văn tự cổ về ngày "tận thế" 2012 - tuấn anh

Trong lúc đào bới tại khu khai quật La Corona ở Guatemala, các chuyên gia khảo cổ học đã phát hiện một văn tự của người Maya cổ, có niên đại 1.300 năm và nội dung nhắc tới cái gọi là “ngày cuối cùng” của lịch Maya – 21/12/2012.

Phát hiện trên được tôn vinh là một trong những khám phá về chữ tượng hình nổi bật nhất trong nhiều thập niên qua. Nó được công bố hôm 28/6 tại Cung điện quốc gia ở Guatemala.

 

“Văn tự mới phát hiện đề cập tới lịch sử chính trị cổ đại, chứ không phải lời tiên tri”, Marcello A. Canuto – người đứng đầu Viện nghiên cứu Trung Mỹ Tulane và cũng là đồng giám đốc dự án khai quật ở La Corona.

Kể từ năm 2008, ông Canuto và ông Tomás Barrientos đến từ trường Universidad del Valle de Guatemala đã chỉ đạo các cuộc khai quật ở La Corona – khu vực từng bị nạn cướp bóc hoành hành.

“Năm ngoái, chúng tôi nhận được tin bọn cướp bóc một tòa nhà đã vứt bỏ một số tảng đá khắc vì chúng bị hư hại quá nặng, không thể bán trên các thị trường đồ cổ chợ đen. Vì vậy, chúng tôi biết rằng chúng tìm kiếm thứ gì đó quan trọng, nhưng đồng thời cũng nghĩ chúng có thể đã bỏ lỡ thứ gì đó”, ông Barrientos kể trên trang Science Daily.

Cái mà Canuto và Barrientos tìm thấy sau đó là văn tự dài nhất từng được phát hiện ở Guatemala. Được chạm khắc trên các bậc thềm lên xuống, văn tự đã ghi chép lại 200 năm lịch sử vùng La Corona.

 Khi giải mã các phát hiện này vào tháng 5 vừa qua, David Stuart – giám đốc Trung tâm Mesoamerica thuộc Đại học Texas, người đã tham gia cuộc khai quật đầu tiên ở La Corona năm 2007 – nhận thấy có sự ám chỉ đến năm 2012 trên một bậc thang chứa 56 chữ tượng hình được chạm khắc tinh vi.

Nó kỷ niệm một cuộc viếng thăm hoàng gia tới La Corona năm 696 sau Công nguyên của nhà cầm quyền người Maya hùng mạnh nhất thời kỳ đó - Yuknoom Yich'aak K'ahk' của xứ Calakmul, chỉ một vài tháng sau thất bại của ông trước kẻ thù truyền thống Tikal vào năm 695 sau Công nguyên.

Từng được cho là đã bị giết trong trận chiến này, nhà cầm quyền Yuknoom Yich'aak K'ahk đã viếng các đồng minh và xoa dịu những lo sợ của họ sau thất bại của ông.

“Đây là một thời kỳ hỗn loạn nghiêm trọng về chính trị ở khu vực Maya và vị hoàng đế này cảm thấy bắt buộc phải nói đến một chu kỳ thời gian lớn hơn sẽ kết thúc vào năm 2012”, ông Stuart nhấn mạnh.

Vì vậy, thay vì là lời tiên tri, sự ám chỉ tới năm 2012 đã đặt thời kỳ trị vì không suôn sẻ cũng như thành tựu của vị hoàng đế Yuknoom Yich'aak K'ahk vào một khuôn khổ vũ trụ học lớn hơn. “Trong thời kỳ khủng hoảng, người Maya cổ sử dụng lịch của họ để đề cao tính liên tục và sự ổn định, thay vì việc dự đoán ngày tận thế”, ông Canuto cho biết thêm.

----------------------------
* nguồn: vietnamnet