Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2012

chân dung hay chân tướng nhà văn [kỳ 66 - 67] - nhật tuấn


Kỳ 66


Trời đất, những lý luận cao siêu này tới ngày nay cũng khó nhét vào đầu một ông bí thư huyện ủy huống hồ chị đàn bà mù chữ, kiếm sống bằng chân tay.
“Cũng có buổi, anh kể chuyện Liên bang xô viết, cả người kể lẫn người nghe đều thả trí tưởng tượng bay tới cái đất nước xa xôi mà họ chưa từng thấy bao giờ nhưng lúc này lại gần gũi nhất với mơ ước của họ…”.
Vẽ ra “thiên đàng hạ giới” ở Liên xô xa xôi làm ‘bánh vẽ’ kích động người dân làm cách mạng là một thủ đoạn chính trị” quen thuộc của những người cộng sản từ khi còn trong bóng tối. Và tất nhiên nhắm mắt tin theo dễ dàng chỉ những người “thất học”, đầu óc đơn giản như chị Gái, còn trí thức thành phố thì khó. Quả nhiên “Qua mấy tháng, Khắc định tìm một người giao thông thay chị Gái và giao cho chị nắm hẳn mấy huyện ngoại thành rồi sẽ đưa chị vào thành ủy…”.
Nhà văn Nguyễn Đình Thi quả đã dựng nên một chân dung cán bộ vượt cả những hình dung thông thường. Hóa ra để trở thành cán bộ lãnh đạo cỡ thành ủy, một chị nhà quê thất học chỉ cần tối ra vườn tối cán bộ “lầm rầm” giảng chính trị để rồi vài tháng sau đã lãnh đạo cả mấy huyện ngoại hành.
Vậy mới biết “chuyên môn” làm nghề “cách mạng chuyên nghiệp” thực ra chẳng có gì ghê gớm, chỉ qua vài tháng nghe gỉ tai là “nghiệp vụ tay nghề” đã thành thạo. Thực ra vốn liếng kiến thức của mấy ông cán bộ chuyên nghiệp như Khắc, Lê, Cảnh…cũng chỉ sơ sài có thế. Bởi lẽ cái nguồn tri  thức để bồi bổ cho học vấn của mấy ông quẩn quanh chỉ vài cuốn sách. Dưới đây là gói sách ông Khắc đã chôn ngoài vườn sau nhà, nay nhờ cô em gái đào lên để đưa cho anh cán bộ tên Cảnh:
“Lênin: Nhà nước và cách mạng – Lênin: Bệnh ấu trĩ của chủ nghĩa cộng sản. Angghen: Ông Đuyrinh làm đảo lộn khoa học. Mác và Angghen: Tuyên ngôn của Đảng cộng sản - Xtalin: Những nguyên lý của chủ nghĩa Lênin - Các Mác: Tư bản – Quyển thứ nhất - Lênin… Hai chiến thuật…”.
Tất cả kho lý luận chỉ có thế, toàn những lý thuyết xa của mấy ông rậm râu mãi bên kia bán cầu, xa lạ, chẳng dính dáng gì tới mấy bác nhà quê An Nam vốn bị tây đá đít thì cùng lắm chửi thầm trong bụng. Ấy thế nhưng nó lại là của báu, sách gối đầu giường của mấy anh cán bộ cộng sản. 
Tay anh cán bộ vẫn giở nhanh những cuốn sách giấy đã vàng và còn ẩm hơi đất. Cánh mũi phập phồng hít cái mùi mốc nhạt nhạt phảng phất từ những trang giấy bay lên. Đôi mắt anh to và sáng ngước nhìn Quyên như thầm thốt lên: Sao ở đây lại có cái kho tàng quý như thế này. Đây là ánh sáng mà bao nhiêu người lần mò trong đêm tối đang đi tìm, đây là cơm là áo, đây là thuốc súng sẽ làm nổ cái xã hội tàn ác và nhơ bẩn này cho mọc lên một cuộc đời mới…”.
Thật đáng lo những cuốn kinh Coran cách mạng cao siêu này làm sao chui được vào đầu mấy bác nông dân An Nam vốn quen ứng xử bằng những kinh nghiệm thực tiễn qua ca dao tục ngữ lưu truyền đời này sang đời kia chứ chẳng phải do những giáo lý trừu tượng. Chẳng hiểu bằng cách nào những người cộng sản có thể “quán triệt” cho những quần chúng thất học như chị Gái, cô An, cái Xoan, anh Côi…hiểu được thế nào là quy luật tất yếu, là thặng dư giá trị, là chiến lược chiến thuật… những khái niệm cao siêu với ngay bản thân các cán bộ.
Vậy các nhà cách mạng mác xít Việt Nam có thực học được và thực hiện được lý thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin, hay chỉ vớt được cái váng của nó qua một số tài liệu biên dịch sơ sài hoặc lược thuật đơn giản cho phù hợp với đại chúng.
Và thắng lợi của họ liệu có phải là sự toàn thắng của tư tưởng Mác - Lênine hay chỉ là vận dụng “tài tình” các “thủ đoạn chính trị” trong đó bạo lực là phương tiện hàng đầu để giải quyết mọi vấn nạn trên đời bất chấp sinh mạng cả chục triệu con người, tạo nên một bi kịch vĩ đại là tát cạn biển Đông chỉ nhận được về một…giọt nước mắt. Thay vì đánh thắng “hai đế quốc to”, người Thái Lan đã khôn khéo tránh được hai cuộc chiến, và như vậy phải chăng họ kém “vinh quang” hơn người Việt Nam? Cái ý nghĩa khách quan của “Vỡ bờ” quả thực đã phản lại chính tác giả trong mưu toan dùng nghệ thuật tiểu thuyết làm sai lệch sự thực của lịch sử.
Một trong những hoạt động cốt lõi của ông cán bộ Đảng cao cấp Khắc là in ấn và tán phát tài liệu tuyên truyền cộng sản. Nào “bản Tuyên cáo quốc dân” của thành ủy Hải phòng trong một đêm đã được rải và dán ở các khu phố nội thành báo tin cho nhân dân biết Đảng vẫn có mặt và kêu gọi chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc…” nào “ tờ báo Tia Lửa cơ quan của Đảng cộng sản vùng biên ra số đặc biệt bốn trang, in 700 số, trên trang nhất có vẽ hình Lênin…” rồi “những tài liệu nhỏ tóm tắt chủ nghĩa Lênin cùng với mấy nghìn truyền đơn bươm bướm…”.
Cả một khối lượng tài liệu lớn như vậy một mình Khắc làm sao mà xoay xở?
Trước hết ông “tuyên truyền được một anh thợ in tên Lập”. Thế còn xưởng in? Câu chuyện ông nhà văn đưa ra có thể coi là là một “huyền thoại” theo kiểu “tay không bắt giặc, biến không thành có, biến khó thành dễ” quen thuộc của các nhà tuyên truyền cách mạng.
Để tìm địa điểm in, Khắc để ý tới ngôi nhà nhỏ của anh thợ cạo tên Kênh. Thoạt đầu “Khắc bắt đầu chú ý đến Kênh vì thấy ở cái hòm thợ cạo, khi mở ra, bên trong nắp có dán một tấm bản đồ thế giới mà chỗ Liên xô lại tô màu đỏ”. Yêu Liên xô vậy chắc phải là người ủng hộ cộng sản, chắc có thể bắt quen làm người “của mình”.
Chỉ một câu ca ngợi đất nước Liên xô, anh thợ cạo đã được cách mạng tin ngay và chọn ngôi nhà nhỏ xíu của anh làm Xưởng in bí mật. Cả xưởng chỉ có anh thợ in tên Lập với “hòn đá, hai cái ru lô, mấy hộp mực in và cả một bát chữ…”. Người và phương tiện in ấn chỉ có thế mà in ra nào báo, nào sách, nào truyền đơn thì quả thực chỉ những người cộng sản trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Thi mới làm nổi. 
Các nhà văn cộng sản thường đối lập tình yêu mà họ coi là “hạnh phúc cá nhân” với “sự nghiệp cách mạng” và kết cuộc chiến sĩ cộng sản bao giờ cũng hy sinh tình yêu chọn lý tưởng cách mạng. Tuy nhiên cái “đạo đức khắc nghiệt” này chỉ có hiệu lực vào những năm đầu đi theo cách mạng, còn vào thời kỳ những năm 1970 Nguyễn Đình Thi viết “Vỡ bờ”, nếu “nhăm nhăm gạt bỏ tình riêng mưu hạnh phúc chung” vậy e rằng bị chê là “công thức”, biến người cộng sản thành người máy không tim, bởi vậy ông nhà văn mới sắp xếp cho anh cán bộ cộng sản Khắc trong một lần gặp gỡ An, em Gái đã không cầm được lòng, đã vượt rào đạo đức cách mạng “ăn nằm với cô trong suốt một ngày”. Rủi thay, ngay sau cái ngày tràn trề hạnh phúc đó, Khắc đi gặp một cơ sở cách mạng, bị chỉ điểm và bị bắt.
Tất nhiên để bù lại “khuyết điểm sinh hoạt” hủ hóa với em gái cơ sở cách mạng, ông nhà văn phải đề cao hết mức ý chí bất khuất của Khắc trước mọi đòn tra tấn dã man của mật thám Pháp nhằm làm phong phú và sinh động chân dung người anh hùng cộng sản. Đó là thủ pháp đen trắng (“contrast”) thường thấy trong tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa; khi muốn làm bật tính cách dũng cảm của nhân vật anh hùng, các nhà văn thường cho anh ta mắc tí tí khuyết điểm trong sinh hoạt như “văng tục”, “nhớ mẹ quá trốn về một buổi”…

KỲ 67

“Sau hơn chục trận tra tấn chết đi sống lại, Khắc đã yếu quá, không thể đứng lên được. Hai ngón tay cái bị dây cứa gần đứt hết thịt, vào đến tận xương, sưng tấy lên đau buốt suốt ngày đêm…”.
Bị tan nát thân thể, thập tử nhất sinh vậy nhưng Khắc nhất định không khai nửa lời thì cũng còn có thể chấp nhận là có thật được, nhưng không hiểu sao khi bị khiêng về xà lim, anh vẫn còn đủ sức “giác ngộ tư tưởng” cho anh “gác ngục trẻ” thì mới là truyện thần kỳ.
“Từ hôm đó anh “xì cút” cứ đến tua gác đêm là không quên mở cửa xà lim cho Khắc ra ngồi thở chừng mười lăm phút, nửa giờ. Những lúc ấy anh ta thường đứng cạnh nói chuyện với Khắc. Anh ta có vẻ suy nghĩ, những lúc nghe Khắc nói về đời sống ở Côn Đảo hoặc kể lại truyện tiểu thuyết “Người mẹ” của Gorki…”.
Chẳng hiểu sao mật thám Pháp độc ác vậy mà lại bố trí lính gác xà lim hiền lành thế, và cũng chẳng hiểu sao Khắc bị đánh, tra điện gần chết như vậy vẫn còn đủ sức kể chuyện tiểu thuyết “Người mẹ” của nhà văn Liên xô mới tài. Rồi một anh bạn tù tên là Mầm đưa nắm cơm tù vào, Khắc tranh thủ lên lớp:
“Anh bây giờ là đi vào con đường cách mạng rồi chứ còn gì nữa. Muốn làm cách mạng thì phải học. Anh học đọc, học viết đi. Nhờ anh em biết chữ bảo cho. Tối nay, lúc nào anh vào đây, tôi nói chuyện về cách mạng cho mà nghe…”.
Thật cứ như Khắc có phép thần thông, luyện công trị thương tới mức thượng thừa, chỉ trong khoảnh khắc anh đã từ cõi chết trở về, không những hồi phục sức lực, vượt qua đau đớn mà còn kể chuyện, ca hát và cả lên lớp chính trị nữa.
Cứ “bốc phét” như thế ông nhà văn quên bẵng đi rằng tính chân thực mới là giá trị hàng đầu của nghệ thuật của tiểu thuyết.
Không giống cán bộ cộng sản sau một thời gian tù đầy đều được trở về và còn sống cho tới tận ngày nay với bao đặc quyền đặc lợi, sau khi bị bắt ở Hải Phòng, Khắc được đưa về Hà Nội tỏ rõ khí phách trước quân thù:
“Tôi không có gì để nói thêm với ông cả. Ở hàng ngũ cách mạng, cũng có một vài kẻ hèn nhát hoặc phản bội. Nhưng các ông đừng lầm tưởng như vậy là các ông thắng. Chúng tôi là đảng viên cộng sản, chủ nghĩa chúng tôi cho chúng tôi thấy rõ tương lai. Các ông sẽ không còn, nhưng đất nước chúng tôi sẽ độc lập, chủ nghĩa cộng sản sẽ được thực hiện vì đó là mong muốn của hàng triệu người”.
Và ông đã hy sinh thật anh dũng:
“Lanéc cúi xuống, bấm đèn pin vào mặt Khắc  Trong vệt sáng, hiện rõ những đám máu ộc từ miệng Khắc chảy vòng quanh đầu anh. Máu đỏ sẫm nóng hổi rỏ giọt từ trên sàn gỗ xuống nền xi măng. Khắc đã tắt thở…”.
Thật tiếc cho những người đã đổ máu hy sinh cho lý tưởng như Khắc, bởi lẽ nửa thế kỷ sau, “đất nước quả có độc lập” nhưng “chủ nghĩa cộng sản” thì vĩnh viễn chẳng bao giờ được thực hiện và buồn thay sự rũ ra khỏi nó mới chính là mong muốn của hàng triệu người. Vào những năm 1990, khi cả khối xã hội chủ nghĩa Liên xô và Đông Âu đã sụp đổ, “cộng sản chỉ còn như một thiên đàng đã mất” trong con mắt mọi người, kể cả Nguyễn Đình Thi, vậy mà ông nhà văn còn viết được những dòng “tin tưởng” như trên thì quả thực ông tự lừa dối chính ông và lừa dối cả mọi người.
Cái còn để lại sau khi Khắc chết không phải là gương hy sinh, bất khuất mà chính là… hòn máu của anh trong bụng An - cô người yêu anh đã chung sống chỉ một lần duy nhất trong đời:
“An tự nhiên sờ lên bụng. Một cái gì rất lạ lẫm. An cảm động, rung hết người. Đúng rồi. Đến hôm nay đã quá ngày gần một tháng rồi. An đã có mang…”.
Sau cái chết của người cộng sản, phong trào cách mạng cũng như nội dung của cuốn tiểu thuyết chùng hẳn xuống, mất hẳn cái mạch liên tục, sôi nổi trước đó. Một phần năm còn lại của cuốn sách chỉ còn diễn tả những nhân vật “quần chúng” mà trước đó vì mải mê tập trung vào nhân vật cán bộ cộng sản, ông nhà văn đã buông lửng chúng.
Trước hết là thầy giáo Hội được nói tới khá nhiều ở đầu truyện. Thày giáo Hội giống y chang thầy giáo Thứ trong “Sống Mòn” của Nam Cao. Cũng mòn mỏi trong một trường tư thục rồi bị thất nghiệp vì chiến tranh xảy tới, cũng nặng gánh vợ con trong thời buổi gạo châu củi quế mà rời tấm bảng đen với cục phấn trắng ra chẳng còn biết làm gì:
“Hội chẳng biết làm gì để nuôi lấy thân mình, chứ đừng nói gì đến nuôi vợ con. Hội lại sắp ăn bám vào Thảo, Thảo đã khổ đến như vậy rồi, mà sẽ còn phải nhịn ăn nhịn mặc nữa và Thảo với cả con Hiền sẽ lại gò lưng xay lúa, giã gạo, sàng sẩy, chắt bóp bán từng bơ cám, từng nải chuối xanh, từng cây kim sợi chỉ để lo lấy bữa cơm bữa cháo…”.
Tuy nhiên “giáo Hội” của Nguyễn Đình Thi có khá hơn “giáo Thứ” của Nam Cao đôi chút ở chỗ thất nghiệp trở về làng xoay ra…viết văn:
“Thế là ngày ngày anh ngồi trong cái chái đầu nhà, vừa ôm cái tí Vân, vừa viết giấu giếm. À, nếu viết như các ông Vichto Huygô hay là Tolstôi thì chẳng dám màng, chứ còn như những chuyện “chàng chàng nàng nàng” lâm li giả dối và chán ngoét đầy dẫy trên báo sách thì làm gì chàng chẳng viết được?”.
Hóa ra cái khả năng tiên tri, thấu thị, dự báo của nhà văn Nguyễn Đình Thi thật đáng nể, bởi lẽ cho tới tận bây giờ, thời đại bùng nổ của cách mạng tin học -  cái tình trạng “lâm li giả dối và chán ngoét đầy dẫy trên báo sách” vẫn còn tiếp diễn dài dài trên cả nước.
Nhân vật tiếp theo được nhắc lại là hoạ sĩ Tư vốn là người yêu của cô Phượng đài các, vợ của tri huyện Môn. Nếu như hoạ sĩ Thanh Tùng hái ra tiền bằng những bức tranh thời thượng thì hoạ sĩ Tư cứ nghèo rớt mồng tơi “hàng ngày phải tính từng hào, từng xu và nhịn tất cả mọi thứ làm thế nào giành giật với cuộc sống từng bữa ăn, từng thức vải, hộp màu để vẽ…”. Người còn quan tâm tới Tư chỉ còn có cô gái điếm tên Bích, mua cốm tới cho anh ăn, có nhạc sĩ Toàn, sau khi cô gái Nga Nina bỏ anh ra đi, anh năng tìm tới hoạ sĩ Tư rủ rê: “Tao chịu mày, không còn biết gì đến chuyện gì ngoài cái giá vẽ của mày. Ngoài phố người ta đã nhớn nhác cả lên. Mày không biết chính phủ Pêtanh vừa ký với Mãtuôka ở Tokyo một hiệp ước về Đông Dương rồi à? “Quân đội Nhật bản ở Quảng Tây bây giờ đang đòi vào bắc kỳ ngay. Có thể nổ súng không chừng…”.
Nghe lời nhạc sĩ Toàn, hoạ sĩ Tư tạm rời cái giá vẽ để lang thang xuống phố. và thế rồi “Hình ảnh người đàn bà bế con ngồi trên bọc chăn màn với cô gái đeo cái tay nải nâu ở bến xe điện lại hiện lên trước mặt Tư. Anh phải vẽ bức tranh ấy…”. Sau chuyến “đi thực tế” bến xe, bến tàu, nhà ga… Tư bỗng cảm thấy “Một cái gì đây sẽ đến… Hôm nay Tư đã thấy phía bên kia (quân Pháp) đang đổ nhào và tan rã như thế nào?”. Quân hồi vô phèng…” - những con mắt len lét và hằn học của đám lính bị thương ở Lạng Sơn về. Cái cảnh tây đầm chí chóe trên con tàu đi Sài Gòn. Một cái gì đây sẽ đến…”.
Một cái gì sẽ đến, tuy nhà văn không nói toạc ra, nhưng ai cũng hiểu ông muốn nói tới… cách mạng. Một cuộc cách mạng “long trời lở đất” đang tới mà ngay đến anh họa sĩ suốt ngày ngơ ngẩn với màu với hình cũng đã cảm nhận thấy.
Cái thành phần rồi đây sẽ tan rã khi cách mạng nổ ra – tầng lớp quan lại, địa chủ, tư sản, thượng lưu… cũng được tác giả nhắc tới tất cả những “xấu xa, bệnh tật” của nó. Nào cậu Tường, con trai nghị Khanh, cậu Thúc, con trai chủ đồn điền cưỡng dâm cô thôn nữ tên Thơm; nào cô Nguyệt, con gái nghị Khanh, bị đám con quan đẩy vào buồng, “đánh táp lô” đến mang bầu phải đi nạo, nào nghị Khanh nẫng vợ bé của ông bạn Quảng Lợi… Cả một xã hội bốc mùi xú uế đang như con cá nằm trên thớt chờ cách mạng tới để được hóa kiếp.

(còn tiếp)

--------------------------
* nguồn: blog nhattuan

miền... "cụp lạc" [kỳ 23] - nhật tuấn


KỲ 23


Gã nhìn vào mắt hắn, nghiêm trang:
- Có chứ, cuộc trao đổi ấy cũng có một ý nghĩa nào đó chứ.
Hắn tròn mắt:
- Ý nghĩa gì?
- Cậu sẽ đích thực là một con người, một con người mang tính cách hàm hồ, bất định, chịu chơi mà thiếu những cái đó nhân loại sẽ thoái hóa trở thành loài ong.
Thằng giả ăn mày trầm mặt, búng điếu thuốc, nhún vai:
“Cứ tưởng cậu gàn dở mà lâu lâu cũng nói được câu sâu sắc. Rất tiếc nàng không đòi mạng tớ, nàng đòi mạng người khác kia”.
“Ai thế? Chồng nàng chăng?
“ Một người ngay cậu cũng biết. Nhưng tớ chẳng lộ đâu. Tớ đã chấp nhận cuộc chơi và nàng đã giữ lời hứa, không phải một đêm, nàng cho tớ tận hưởng nghệ thuật làm tình tuyệt với của nàng trong nhiều đêm.
Gã cau mày:
“Và ông thành sát nhân?”.
Hắn cười gằn:
“Cũng gần thế, nhưng không có xác chết và máu me như các gã tình nhân gục ngã dưới mũi súng nàng Emily trong truyện. Đó là một thằng vừa bất lương vừa đểu cáng, đểu cáng tới mức coi trọng quyền lực hơn cả mạng sống của nó”.
“A… hiểu rồi, ông sẽ nhắm tới cái ghế quyền lực của một quan chức nào đó…”.
“Có thể, hất được cái ghế của nó, coi như nó đã chết, còn đau hơn chết ấy chớ”.
Gã bỗng nhẹ nhõm người, gã sợ vấy máu ở tay thằng giả hành khất, vừa xa lạ vừa thân quen, vừa đáng tin lại vừa đáng ngờ, đôi khi gã tự trả lời: bạn chứ, bạn chân tình là khác, bởi vì hắn giúp đỡ gã rất nhiều, ở bên gã trong lúc khó khăn, không hề lợi dụng gã bất cứ chuyện gì. Gã nắm lấy tay hắn, chân thành:
“Tôi giúp gì được cho ông không?
Thằng giả hành khất chớp mắt giấu cảm động, rất nhanh trở lại giễu cợt.
“Cậu giúp tớ… một tay làm dịu bớt ngọn núi lửa trong người nàng nhé. Đêm qua nàng rên lên bên tai tớ: “Ối anh ơi, ngủ với anh một đêm bằng ba năm em sống với chồng”. Tớ mới bảo nàng anh đã là cái thớ gì, anh có thằng bạn còn “siêu” gấp mấy lần anh, nó có thể làm tình ngay trong giấc ngủ nữa kia.
Nàng cười rinh rích:
“Xạo, xạo quá làm gì có người như thế”.
Gã cười ngượng nghịu:
“Nàng nói đúng đấy, làm gì có chuyện đó”.
Hắn quát:
“Vẫn chưa tin hả? Hôm nào tớ dẫn cậu tới “biễu diễn” cho nàng biết tài”.
Gã lắc lia lịa:
“Không, ai làm chuyện đó, nàng là người yêu của anh kia mà…”.
“Cũng được chứ sao, nếu cả hai chúng tớ chấp nhận”.
Gã lại lắc quầy quậy:
“Thôi đừng đùa, tôi chỉ mong giúp đỡ ông trong việc trả nợ nàng anh đang theo đuổi”.
Hắn nhìn gã, nghiêm giọng.
“Truớc mắt cậu phải kín miệng, tuyệt đối không được lộ những điều tớ kể, và ai có hỏi cậu về tiếng động nhà dưới trong đêm cuối tuần thì nói hoàn toàn không biết, không nghe. Còn sau này…”.
Hắn đứng bật dậy, đẩy cửa số nhìn sang ban công trống vắng bên kia, ngẫm nghĩ rồi cười nhạt:
“Sau này… ừ không khéo tớ cần cậu giúp tớ một tay cũng nên”.

                                      *
Emily tỉnh dậy trong căn phòng lạ làm nàng sững sờ. Không có bức tuờng gắn đèn chùm, không có cửa sổ che rèm, không có bất kỳ đồ vật gì như trong các khách sạn mà nàng đã quen sống. Xung quanh là những chấn song chạy vòng tròn gây cho nàng cảm giác đang sống trong một cái chuồng chim khổng lồ, không có bất kỳ khung cửa nào, nhưng đưa mắt nhìn khắp bốn phía nàng có thể thấy bầu trời trong vắt, không có đến cả một gợn mây.
“Thằng khốn khiếp chắc đang nhốt ta trên đỉnh một cái tháp truyền hình”.
Nàng nghĩ bụng và tung chăn nhảy khỏi giường. Màu trắng của váy ngủ nàng đang mặc, của tấm chăn và vải trải giường làm nàng khó chịu, xưa nay nàng tối kỵ màu đó, nó thường gợi ra nhàm chán, tẻ nhạt. Lục lọi khắp căn buồng hình tròn, nàng phải lắc đầu thán phục tính cặn kẽ, chi ly của gã bịt mặt trong việc sắp xếp một căn phòng “không có thông tin” dành cho nàng. Nàng sẽ không biết  được giờ giấc, ngày tháng bởi trên tường không có lịch mà cũng chẳng có đồng hồ. Nàng sẽ không giao tiếp được gì với xã hội con người bởi trong phòng không có đến một mảnh giấy vụn có chữ, ngay đến hộp thịt mở sẵn cạnh ổ bánh mì cũng bị xóa đi nhãn hiệu.
Nàng tức uất nhưng không thể không đụng tới bữa ăn, cái đói làm nàng quên béng mất tờ thực đơn ông bác sĩ đã kê toàn các món chỉ có đạm thực vật để giữ cho cái eo tuyệt mỹ của nàng mãi mãi thon nhỏ. Vậy mà trời ơi, nàng rít lên sau khi ngấu nghiến hết hộp thịt lợn, ngày nào cũng ăn thế này thì chỉ một tháng ta sẽ biến thành một mụ xì thầu, mập ú như con lợn quay, giết ta đi còn hơn.
Quả thực với nàng sắc đẹp còn quý hơn sự sống. Nàng thường tức tối trước sự hèn nhát của những bà già nhăn nheo sao không dám chết quách cho rồi, và từ thủa mới lớn, tự ý thức sắc đẹp của mình, nàng thường tự nhủ một khi nó tàn úa, nàng sẽ vứt bỏ chiếc gương để cầm lấy một liều thuốc ngủ đủ lìa đời: “sáng mai khi hắn mang đồ ăn tới, ta sẽ nhẩy sổ ra bóp chết hắn”, nàng nghiến răng tự nhủ và chợt nhớ lời khuyên bác sĩ, mọi giận giữ đều dẫn tới nguy cơ xuất hiện nếp nhăn trên trán, nàng đành thở dài, cố gắng không nghĩ tới gã bịt mặt nữa.
Vậy nhưng sáng hôm sau thức dậy, chẳng thấy bóng dáng gã khốn kiếp đâu chỉ thấy trên giường không phải hộp thịt mỡ như hôm qua mà trời ơi, hẳn một cái bánh kem khổng lồ to gần bằng cái gối nàng nằm.
“Thuốc độc, thuốc độc…” nàng hoảng sợ nhảy xuống giường tránh cho xa cái vũ khí hủy diệt kia đi. Không, thà chết còn hơn ăn cái thứ đó, bác sĩ đã dặn không được động tới bất kỳ cái bánh kem nào trên đời, dầu thèm tới chết đi nữa.
Tuy chưa can đảm quẳng cái bánh kem khổng lồ qua song sắt, suốt cả ngày hôm đó nàng quay mặt đi nhất định không nhìn tới nó. Nhưng cơn đói là thứ không thể lờ được. Nó làm sự giằng co mỗi lúc thêm quyết liệt, may mắn thay giấc ngủ đã đưa nàng ra khỏi cám dỗ.
Sáng hôm sau một mùi gì đó rất kỳ diệu đánh thức nàng, vật đầu tiên nàng thấy ở đầu giường không phải chiếc bánh kem khổng lồ, nó biến mất thay vào đó một con gà quay, quắp mỏ vào cánh, vàng ruộm và óng ánh mỡ.
Nàng nhỏm phắt dậy, vẫn y hệt ngày hôm qua, vẫn cái gam màu trắng khắp nơi, vẫn cái không khí lặng tờ tưởng có thể xắn ra được từng khối, duy nhất có đồ ăn là thay đổi, một sự thay đổi độc ác, một cách giết nàng tinh vi.
Trời ơi, sự thay đổi này còn làm tăng ký gấp ba lần bánh kem. Tuy nhiên không thể cứ nhịn mãi, thiếu dinh dưỡng cũng hủy diệt sắc đẹp không kém gì sự dư thừa, nàng nghĩ vậy và quyết định chỉ ăn một cái lườn gà. Nhưng bao tử nàng cũng như các bộ phận khác vốn không quen nửa vời, nó giận sôi sùng sục khi nàng đặt con gà xuống, quay mặt đi, và kỳ lạ chưa, ngay cả khi nàng nhắm mắt lại, hình ảnh của lớp da gà quay và thớ thịt nõn nà vẫn cứ hiển hiện rõ ràng trong tâm tưởng.
Mình nguy rồi, nàng nghĩ vậy và tay nàng cầm lên một cái lườn gà nữa, cuộc giằng co của nàng kéo dài đến chiều tối thì chấm dứt khi trọn cả con gà quay đã nằm gọn trong dạ dày.
Không sao, không sao cả, bù lại mình sẽ nhịn đói cả ngày mai, nàng tự an ủi và  rồi khi không còn bận tâm đến cái dạ dày, nàng chợt cảm thấy thiếu thiếu cái gì đó. Nàng lăn người trên giường, cố nghĩ xem đang thèm cái gì? Căn buồng càng về chiều càng tĩnh lặng, ngay đến một tiếng gió cũng chẳng có, cả cái đập tay của nàng xuống đệm giường cũng chẳng gây ra tiếng động nào.
Âm thanh, phải rồi, chao ôi giá lúc này được nghe một điệu nhạc rock, một tiếng cười hoặc một tiếng chưột rúc cũng được. Vậy mà dường như sự im lặng vẫn trôi qua chấn song sắt vây lấy nàng, mỗi lúc thêm dày đặc làm nàng kinh hoàng, bất giác hét to: “A….a…a”.
Nhưng với kiến trúc kiểu chuồng chim, tiếng hét của nàng thoát cả ra ngoài trời, chẳng hề vọng lại chút hồi âm chẳng khác gì ngoài hoang mạc. Nàng nằm vật xuống giường úp mặt lên gối và có lẽ bao nhiêu năm rồi trạng thái này đã mất đi, bây giờ trở lại như thủa còn nhỏ: nàng khóc…”.
Thằng đầu nậu xuất bản đọc đến đó, vỗ đùi đen đét:
“Hay, thằng cha này viết rất hay. Nhưng mà dịch chậm quá đấy, ông tướng ạ, mới được có hơn nửa cuốn…”.
(còn tiếp)
 -----------------------
* nguồn: blog nhattuan

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

sự cố từ đâu đến? - triệu từ truyền




Tôi là một tài xế sinh ra ở  Phnompenh, ông nội tôi là người Việt Nam làm bồi cho Ông chủ đồn điền người Pháp, sang sống ở CompongChàm, từ những năm 30 của thế kỷ 20 ở đây có hàng vạn hecta cây cao su với hai nhà máy chế biến mủ tờ, ba tôi hoạt động Việt Minh, ba chìm bảy nổi với phong trào cách mạng rồi về lại Campuchia khi đảng của Hun Sen cầm quyền. Tối nay, sau cả tháng đi làm trên vùng đông bắc Campuchia, giáp với Tây nguyên và Đông nam bộ của Việt Nam, tôi về thăm nhà ở thủ đô, tôi gặp Kim Sa một cô gái giang hồ, có hai dòng máu Việt – Khơ me. Tôi kể Kim Sa nghe cuộc găp gỡ tình cờ: Sáng hôm qua, tôi đang lái xe tải lớn vận chuyển đá từ Ratanakiri về Krachéh để dặm vá lại đường, tôi đi được một phần ba đoạn đường 350km, tôi phải nói vậy vì đường tỉnh lộ này những cột cây số còn trắng nhách, chưa ghi gì cả, thậm chí chưa kẻ vạch trắng giữa tim đường. Lái xe không có vạch trắng chia hai làn đường rất khó định phần mình được phép lưu thông. Từ xa tôi nhìn thấy một đám đông đang tụ tập quanh một chiếc xe Camry màu đen đầu chúi xuống rảnh nước, hai bánh sau còn bám được bờ cỏ lề đường. Tôi dừng xe lại vì nhận ra một người đứng tuổi mặc chiếc quần màu sáng, áo bình tô đen bóng vẫy tay, khuôn mặt cương nghị đầy vẻ chịu đựng:
- Anh có dây cáp không giúp tôi kéo xe này lên?
- Con sẵn sang kéo lên, không tiền nong gì đâu, người Việt giúp nhau thôi!
Tôi gật đầu sẵn sàng và cho biết không có dây cáp. Ông ta chỉ cho tôi một sợi dây thừng buộc vào một mấu sau đuôi chiếc Camry móp méo và vỡ vụn tấm kính trước dù còn dính vào khung xe. Tôi bảo cậu bé Khơ me làm lơ cố nối dây đứt đoạn đó vào mấu phía trước chiếc xe tải nặng đầy đá. Tôi lên xe cày số de, chỉ nhích lên vài tấc chiếc Camry lại chúi xuống như một con chuột nhắt cố thoát ra khi bị chân mèo níu giữ chặn đuôi, nhưng dây thừng lại đứt vì không chịu nổi hai lực lớn. Có người báo cách đây non cây số có một máy cày mang theo dây cáp. Nhưng nói qua nói lại nào tiếng Khơ me nào tiếng Việt, mất mấy khắc mà chẳng ai chạy xe đi lấy dây cáp. Người chủ xe bị nạn hiện lên vẻ sốt ruột trên nét mặt dù hết sức kềm chế để trầm tỉnh. Một chiếc máy cày đang gác chảo bảy phía sau lăn bánh, tôi thấy ông ấy nói gì đó, đoán là nhờ máy cày kéo xe bốn chỗ lên, tôi lại nói với ông: - bác nhờ họ phải thỏa thuận giá trước, nếu không… - Máy cày đi luôn vì nó cũng không mang theo cáp. Một ông đi xe Lexus hai cầu mới tinh, ông ăn mặc tươm tất, áo trắng bó sát vào thân người mập mạp đang trao đổi nhỏ nhẹ với người bị nạn. Tôi nghe loáng thoáng ông ta thương lượng giá để kéo xe Camry lên. Chủ xe gặp nạn chỉ chiếc xe chở đá của tôi, xem chừng không kiếm lời được, ông ta lên xe dông mất. Bỗng có hai nông dân Campuchia xuất hiện, chở một đóng dây xích sắt trên xe gắn máy, một anh đòi 50 ria tương đương 250 ngàn đồng. Người đồng hành với chủ xe Camry trả giá: ba mươi ria thôi! Người nông dân ngồi sau nói đồng ý. Tôi ra hiệu cho cậu bé lơ xe nối dây xích vào hai xe. Không quá 30 giây chiếc xe Camry đã lên lòng đường. Đoạn đường hơn 200 km từ thị xã Bung Lung về đến ngã ba nối vào đường số 7 này mới tráng nhựa và rãi đá dăm năm ngoái, trước đây chỉ là đường đất đỏ, vào mùa mưa như bây giờ lầy lội kinh khủng. Hai bên đường có ba, bốn đại công ty Việt Nam đang cày ủi rừng nghèo để trồng cây công nghiệp. Ông chủ chiếc xe Camry lấy đô la Mỹ cho tôi để cám ơn, nhưng tôi từ chối và Ông mời dùng cơm trưa khi đến ngã ba. Giữa trưa ngồi trong quán bên đường mà không nóng lắm, vì vài ba ngày qua có bảo ngoài biển Đông, mây che phủ khắp bán đảo Đông dương, người đồng hành hỏi ông chủ:
- Anh Tư muốn gọi món ăn gì?
- Hiền gọi cho hai cậu xe tải đi, anh chỉ muốn uống cà phê thôi không thấy đổi. Chú Hiền đã ngoài 50 tuổi khuôn mặt khắc khổ, trán nhiều nếp nhăn, rất lịch thiệp:
- Hai cậu quen ăn gì ở quán này cứ gọi nhé!
Vưa ăn cơm trưa, chúng tôi vừa trò chuyện. Chú Hiền kể:
- Khoảng 15 phút sau sự cố, có một xe Mersedes 16 chỗ do anh tài xế Khơ me dùng dây thừng kéo đít xe lên được một chút thì đứt dây, tôi bảo cần có dây cáp hay dây xích mới đươc. Hơn một giờ sau mới gặp hai cậu đó, nhiều người hứa giúp nhưng họ đi luôn.
- Nhưng ông chủ và chú đi đâu vậy?
- Đi ký hợp đồng làm vươn ươm cây giống cao su, có mấy công ty bên kia cầu Sê pook, họ cần hàng triệu cây giống trong nhiều năm để trồng mấy vạn hecta cao su. Bác Tư chen ngang hỏi tôi:
- Ở đây hình như những chỗ khai hoang không có dân ở?
- Dạ, con cũng thấy vây…
- Nếu như vậy sẽ ít đụng chạm với dân, bác biết bên Lào khi cấp trên giao đất cho công ty trồng cao su, không nghiên cứu cẩn thận,có vài nơi không để đất lại cho dân bảng chăn nuôi, trồng trọt. Lúc tiến hành khai hoang hoặc trồng cây rồi vẫn bị dân thả bò vào thậm chí còn bị lấn chiếm diện tích để trồng hoa màu, thật rắc rối. Bác vẫn phải đóng thuế hằng năm đủ 100%, trong khi dân đã chiếm mất 20% diện tích khai hoang rồi. Bác nói với những người quản lý và bảo vệ ở đó không được đụng đến dân, luôn tôn trọng quyền lợi sinh sống của họ…
- Con thấy mấy nước nhỏ như vầy, quan chức chỉ lo thu đươc tiền bỏ túi mà ít quan tâm đến sống chết của dân, phải không bác. Chú Hiền mỉm cười:
- Anh Tư dễ xúc động, thương người nên hay nói vậy thôi, mấy cháu ăn cơm đi đường còn xa mới đến chỗ giao đá làm đường. Chuyện lớn ấy để chính quyền ở đó lo, thời thế mà cháu.
- Con nghe mấy người dân chỗ xe bị lật nói nếu bác Tư không né leo lề chắc chắn người phụ nữ đi xe gắn máy sẽ bị đụng chết, vết xe cho thấy bác Tư thắng lết bánh nhưng do tốc độ khá cao nên xe lật. Bác Tư thắc mắc không biết vì sao xe bị nạn:

- Con lái xe chuyên nghiệp, con biết tại sao xe bị lộn vòng tròn không?

- Bác kể lại lúc đó ra sao?

- Bác đang chạy khoảng 100km/giờ, bỗng một xe gắn máy chạy ngược chiều lảo đảo băng qua trước đầu xe của bác, Bác bẻ lái hết vào lề phải, nghe bánh xe lăn rào rào như một bánh bị xẹp, bác nói với chú Hiền xe bể bánh, chú Hiền cũng lặp lại bể bánh rồi. Bác nhấp thắng, thấy không ăn nên quay vô lăng qua trái một chút, xe không theo ý mình,và sự cố ập đến.
- Thông thường con thấy khi xe cua vòng, thắng không ăn, hoặc khi bác đạp thắng lần hai quá gấp nên xe lật. Theo con, Bác phải kiểm tra lại thắng, cũng có thể xe bị dính thắng, rối theo quán tính xe vọt qua lề luôn.
Chú Hiền ngơ ngác: Chú chẳng biết gì về xe! Tai qua nạn khỏi là quá mừng rồi. Chú thấy ông Tư từ đầu đến cuối vẫn tỉnh bơ, trong lúc chú hoảng hốt sợ khiếp vía. Ông còn nói với chú đâu bằng bị tra tấn trong tù.
- Vậy bác Tư có theo cách mạng sao? Nhìn tướng giống ông chủ làm ăn lớn.
- Bác Tư mày còn làm thơ nữa đó.
Ông Tư gạt ngang: bây giờ nói chuyện đó làm gì, thôi chia tay đi còn nhiều việc đang chờ, hẹn gặp nhau ở Phnompenh. Tôi nhìn theo chiếc Camry móp méo quẹo về bên phải, đến tỉnh lỵ Stoeng trêng sửa xe, thấy thương cho hai ông già bôn ba. Tôi rồ ga đạp xe

theo hướng ngược lại, trời rớt hột lưa thưa, mưa giữa trưa. Kim Sa nghe xong, rơm rớm nước mắt:
- Thôi chết rồi, hai ông đó mới ăn cơm chiều ở quán này hôm kia, hai ông ấy “mát xa” mà không chịu “mát gần”, Em gặp và tâm sự nhiều với ông Tư, em nghe chú Hiền nói ông Tư biết làm thơ, nên nằng nặc kêu ông Tư làm bài thơ theo lời em kể. Sáng ngày sau Ông Tư để lại tờ giấy này ở quầy tiếp tân. Tớ giấy trắng theo kiểu photocopy thông thường, chữ viết lớn nên dễ đọc, tôi đọc lại cho Kim Sa nghe:
Lỡ bước
Tặng Kim Sa (Phnompenh)

đâu còn đẹp nữa hỡi người

ngực em vừa ngã hướng đời dạt xa

em từ sân hận sinh ra

từ đau thương xọc vào nhà ấu thơ
em lao vào những giấc mơ
tìm đâu hạnh phúc mịt mờ khói sương
trãi thân sưỡi ấm lạc đường
mà người khinh bỉ như phường gian manh
lòng em luồng gió mát lành
ai kia đố kỵ tan tành nghiệp duyên
sao người phán một câu điên
“Em là bồ tát đương nhiên giữa trần!”                       ‘
hình như ai bước lỡ chân
xuống trần thế chẳng nên thân chút nào
tới đi khỏi tiếc tiêu hao
đồng tiền bạc phước chui vào lỗ đen
ngực em căng lại sức hèn
giúp ai thiền định bay lên không cùng.
Đọc xong tôi ngẫm nghĩ Kim Sa không nói thật, vì sợ bị cho là xui xẻo:
- Tại em mà ông Tư bị sự cố xém chết.
- Em có làm gì đâu?
- Rất may mà hai ông không bay mất vào không cùng đó.
- Anh nói quá, em nghe ông Tư nói có một luận sư Phật giáo tên là Osho viết rằng làm tình cũng thiền định được. Hai ông vẫn được Trời Phật độ bình yên mà? Em không chơi với anh nữa đâu!
- Em nói xạo…
Kim Sa giận dữ nói với tôi bằng tiếng Khơ me mấy phút liền, cho rằng tôi dị đoan và thề không bao giờ ngủ với tôi nữa. Tôi thoáng buồn vì làm cô nàng giận mình, đúng là do tôi hồ đồ, trên đời này mấy ai tìm đúng nguyên nhân của biến cố hay sự cố, ví như vụ tai nạn xe của ông Tư, cảnh sát xe cho rằng ông phóng nhanh; kỹ thuật viên sẽ nói do thắng không ăn, tay lái cứng quá; thầy bói thì nói đang gặp vận xui, cánh tài xế cho rằng do ông ngủ với ả điếm mạt vận, còn ông thì đổ thừa cho người đi xe máy lấn tuyến… Kim Sa ơi anh sẽ xin lỗi em, nhưng em hiểu cho rằng mấy ai tìm được đúng nguyên nhân của một kết quả, nguyên nhân thường võ đoán...
Ai cũng tự nhận chính mình là nguyên nhân của mọi thắng lợi, mọi thành công, còn thất bại là do từ đâu đó./.

Stoeng treng-Gia Lai,12-7-2012
-------------------
* nguồn: tác giả


những bóng – nguyễn thị khánh minh * thơ













Biển ơi!
Bóng em áo màu trăng huyễn ảo
Hạt lệ ngân thành tiếng sóng
Tiếng sóng đêm đêm rợn tiếng khóc
Tiếng khóc đêm đêm vỡ những giấc mơ
Cát đêm rất mặn
Những mảnh thuyền dao cắt
Những con ma nhìn em cúi mặt
Những con ma ăn thịt người tanh mùi quỉ dữ
Nhờ nhờ dưới màu nguyên sơ ánh mắt em
Tha Sala em ơi biển động về hư không [1]
Bóng em bản thông điệp máu thời mạt pháp
Bóng em áo màu trăng ngây thơ
Bóng em mảnh ván thuyền vĩnh quyết
Bóng em biển một thời cuồng phong
Bóng em thời gian miên viễn
Đêm nay, em nghe, tôi nghe, người nghe
Tiếng chuông những trái tim
Bồng em biển người bay về cố quận
Một dải biển thơm mùi khói hương ruột thịt
Đón em về.
Bước em xanh ngát biển khoan dung
Tha Sala em ơi biển động về mỗi trái tim

Bóng mẹ ngồi khung xương cong
Bóng thịt bóng da
Bóng đập phập phồng trái tim mẹ
Biển vời vợi xa
Biển không theo con về với khoang cá đầy
Nuôi vợ nuôi con nuôi mẹ nuôi dân chài những đời rất nhỏ
Biển theo con đi vào hàm cá mập
Hàm cá mập thời hải lý răng cưa chiếc vòi bạch tuộc
Bóng mẹ khô
Ôi con không về nữa
Bóng vợ lô xô cát mặn
Nón trắng xếp hàng như nón tang
Bóng vợ nhấp nhô đêm
Xa khơi đèn biển lập lòe mắt mộng
Biển chở về những con sóng lạnh
Âm âm tiếng đàn ông reo tiếng cá
Trôi đi đâu những con thuyền bé miệng
Bóng vợ oằn như sâu
Máu nóng đau chờ, đá kia cũng sợ
Ôi chồng không về đâu
Biển từ thuở Em bắt đầu viết trên sóng đường đi đẫm máu
Biển từ thuở hòa lệ mẹ
đến giờ biển không còn mặn nổi
đến giờ biển không còn biết khóc
Biển của Người biển ơi…
Sông ơi!
Bóng bé thơ bay trên những dòng sông
Bắc những cây cầu
Để,
Sớm mai em đi học
Buổi chiều em đi về
Bình an trên dòng nước lũ
Bóng bé thơ bay trong giấc mơ
Chiếc cầu, bóng cũng như em
Bóng bé thơ bay đàn bướm trắng [2]
Trên dòng sông hôm qua nuốt con đò,
Con đò làm từ giấy bạc lòng tham nên sinh mạng các em rất nhẹ
Sông dạt về những bóng xác lạnh
Bóng các em không còn trong lớp học
Bóng các em thôi ấm bếp lửa nhà sàn
Bóng các em nằm trên dòng sông,
Nhấp nhô bóng những con đò vỡ
Mẹ chờ, đá kia nghe đã mỏi
Mẹ bản nghèo xưa nay lầm lũi rẫy nương
Mẹ chiều nay hóa bóng bên bờ sông lặng lẽ
Bóng bé thơ bay đàn bướm trắng,
Rừng bản dập dềnh bướm trắng
Em bay về đâu…
Khách có về bên bờ sông
Thấy chiếc đò chở các em đi học
Đó là chiếc thuyền rất chắc chắn
Đàn bướm kết trong giấc mộng
Đưa em sang sông và lành lặn trở về
Biển cúng
Sông cúng
Biển khóc
Sông khóc
Đất ngập nước mắt
Trời mờ khói hương
Lệ tôi đêm nay cũng khói
Theo từng con bóng bay lên

tháng 7, 2012
Xin cám ơn hai bài của hai tác giả Lê Đại Lãng và Tưởng Năng Tiến

[1] Tha Sala, Em Ơi Biển Động Về Hư Không, Lê Đại Lãng
[2] Sổ Tay Thường Dân Tưởng Năng Tiến – Ánh mắt con cuông, Tưởng Năng Tiến

-------------------
* nguồn: sangtao.org


đỉnh dốc – vũ thiên kiều * thơ















*
trên đỉnh dốc xông xênh nắng gió
ngời ngợi sắc xuân
có chút nào trầm tư về chân dốc
thuở mồ hôi bầu bạn những âu lo

*
vắt vẻo chênh vênh hay nỗi niềm ma lực
nhích từng bước lòng reo mơ cuộc hội
bờ môi hồng cập bến
ánh mắt giao nhau bóng địa đàng

*
vệt cắt lẹm từ lá cỏ
dọc ngang rớm máu trên da thịt
có ngăn được bước chân và niềm da diết
trái cấm một lần yêu…

*
chênh vênh đỉnh dốc
tâm điểm cao hay òa cơn tiếc muộn
ai dám đánh đu một đời trên đỉnh dốc
đường trượt về xây xẩm mây bay…

--------------------
* nguồn: xunau.org


ngôi đền giữa trời cao – trương văn dân

Đi truyền thuốc về, tôi thấy cửa khép hờ. Bước vào nhà, nghe từ phòng ăn có nhắc đến tên mình nên tôi dừng lại. Tôi nhận ra tiếng bác Thuận. Có lẽ bác mới đến và hai người quên khép cửa.
- Bác thấy bệnh tình của Gấm ra sao?
- Bác rất lo. Bác đã xem hồ sơ bệnh lý của Gấm. Bác thấy tế bào ung thư của Gấm thuộc loại có nhân, rất khó chữa, vì di căn rất nhanh.
- Nhưng bác sĩ điều trị nói là sẽ  dùng loại thuốc mới nhất của hoá trị liệu. Phương pháp này tốt chứ?
- Dĩ nhiên là tốt. Bác biết nói điều này cháu sẽ không vui. Nó làm cháu thất vọng và có thành kiến xấu với người thầy thuốc. Nhưng nghe bác nói đây: Trong nghề y, người ta quan niệm, nếu nói dối mà có lợi cho một người nào thì nó là một liều thuốc bổ sung. Đừng bao giờ để người bệnh đầu hàng và luôn giúp họ bám vào một tia hy vọng dù mỏng  manh nhất.
- Bác nói sao? Con chưa hiểu hết ý.
- Khi y học không biết làm gì, họ làm bận rộn người bệnh bằng những phù phép. Lý do là để tranh thủ thời gian và khoả lấp sự  lúng túng; nhưng điều kỳ lạ là bệnh nhân lại cảm thấy đỡ hơn. Nói trắng ra đó là một thứ tự kỷ ám thị, nhờ nó mà khi uống một ly nước từ tay một người đạo mạo mặc áo blu trắng, hay từ lão thầy pháp mặc áo đỏ khăn đen, cầm bó nhang vẽ bùa trong không khí, bệnh nhân tưởng được cấp một liều thuốc thánh, nên uống vào sẽ có một sự hưng phấn mà họ tưởng là hiệu quả.
- Theo ý bác thì…
- Bác muốn nói là có những trò tầm phào, những viên thuốc vô ích, công dụng chưa rõ ràng hay chưa được chứng minh… nhưng mục đích là làm trí óc bệnh nhân bận rộn, tạo hy vọng và xoá nỗi sợ.
Điều quan trọng là con bệnh thấy “đỡ” hơn. Kết quả “tốt” hơn. Giới y khoa gọi đó là  hiệu ứng placebo.
- Nhưng dạo này con thấy sức khoẻ của Gấm đã khá hơn. Hy vọng thuốc đã bắt đầu công hiệu.
- Tại cái tâm con muốn nhìn thấy thế. Bác nhìn thấy các tĩnh mạch trên cánh tay của Gấm bị phá nát vì những mũi kim truyền thuốc, lòng bác đau lắm. Nhưng yếu tố tâm lý rất cần thiết để giúp người bệnh kiên nhẫn và kéo dài sự sống.
- Trời ơi! Nghĩa là…
- Con  hiểu rồi đấy. Nhưng phải tuyệt đối bình tĩnh và đừng nói cho Gấm biết. Hãy ở gần và an ủi Gấm.
- Vậy bác nghĩ là…
-Nghĩ gì ư? Con không thấy các móng tay của Gấm bắt đầu xù xì sao? Con không thấy giọng nó khàn khàn, nhịp thở  bình thường nhưng có lúc như bị chèn ép sao? Trên cánh tay bắt đầu xuất hiện những vết bầm. Bác sợ là thuốc chỉ gây tác dụng phụ mà chẳng hiệu quả. Hay hiệu quả không cao. Nếu vậy thì  khối u sẽ di căn lên màng phổi. Rồi lên não. Nó sẽ làm Gấm chóng mặt, xây xẩm, dễ té ngã. Không phải là bác sĩ chuyên về ung bướu, nhưng kinh nghiệm cho bác biết là tình trạng của Gấm rất đáng lo.
- Thế bác nghĩ rằng…
- Bác không nghĩ gì cả. Bác không biết được ý muốn của định mệnh. Bác sẽ không dám nói gì hết. Mà thôi, đủ rồi. Bác đã nói quá nhiều. Đã tán gẫu  nhiều hơn những điều cần thiết. Bây giờ, bác phải đi đây.
Hoảng hồn.Tôi đi giật lùi và vội bước ra khỏi nhà.

Khi tôi đóng lại cánh cửa sau lưng thì chút tự chủ cuối cùng cũng biến mất.Như một con thú bị thương, sự khiếp hãi gầm lên trong tôi như một phản ứng cuối cùng trước khi ngã vật. Gần  một tháng nay tôi đã phải đến viện ung bướu để truyền thuốc mỗi tuần ba lần. Tôi đã vật vã và chịu đựng những cơn đau, những trận nôn nửa. Thốc tháo. Người ta nói giúp tôi khỏi bệnh. Tôi đã chấp nhận sử dụng loại thuốc tân tiến, phát minh mới nhất của y học. Nhưng tình trạng của tôi  đâu cần đến những thứ đó. Tôi đã chịu những sự hành hạ không cần thiết.
Tuyệt vọng, tôi  cầm chai thuốc  trong túi xách ném vào vách tường.
Đà ném quá mạnh làm tôi mất thăng bằng.
Mắt tôi hoa lên, chuệnh choạng bước thêm vài bước, dang hai tay vịn vào tường mới có thể bước xuống những bậc thang. Đi đâu bây giờ? Tôi không biết. Nhà thì không thể vào còn nếu chạy loanh quanh ngoài đường thì tôi biết mình sẽ gục ngã. Đến nằm nhà bạn bè ư? Tôi không thể lê cái xác vô hồn này đến ăn vạ nhà ai… Suy nghĩ… Cuối cùng tôi lấy xe chạy vào một nhà trọ, thuê một phòng để nằm tạm vài giờ.
Khi mở được cửa, tôi nằm vật xuống giường như một tảng đá. Ý thức của tôi lúc đó bị rối loạn và ruột gan chỉ thấy một nỗi đau, như vừa bị một miếng đòn thâm hiểm mà định mệnh đã giáng trúng. Hy vọng cuối cùng của tôi đã bị đạp đổ. Tôi nằm úp mặt vào gối. Tôi muốn kiềm chế hơi thở để bình tĩnh lại. Nhưng những kiến thức về thiền chẳng giúp gì được. Trạng thái đóng cửa với ngoại cảnh đã thất bại. Thay vào đó, tôi cảm thấy có một sức ép lên hai bên thái dương.  Nhẹ,  nhưng sau mỗi đợt co thắt, nó làm tôi tê dại. Tôi muốn hét lên. Tôi muốn thét gào nỗi sợ với ai đó, hay đập phá mọi thứ xung quanh.
Áp lực của cõi sống như càng lúc càng đè nặng lên ngực.
Lúc cơn đau dịu đi, tôi cố gắng thu hết tàn lực để suy nghĩ. Thế nhưng đầu óc cứ trống không. Có một cái gì đó lờ mờ làm đầu óc tôi càng lúc càng mụ mị.  Bốn bức tường của căn phòng như lắc lư dịch chuyển. Chúng khép dần như bắt vít, thu hẹp khoảng không. Không gian dồn ép, vây chặt lấy tôi, khủng khiếp như bị nhốt trong một chiếc quan tài bằng kính. Xung quanh tôi chỉ có sự yên lặng của huyệt mộ. “Tôi đã làm gì? Tại sao số phận lại khắc nghiệt với tôi?”. Không có trả lời. Tôi chỉ thấy sự cô đơn của chính bản thân mình trong thế giới này. Tôi cảm giác mình chỉ còn là một mẩu thể xác đang thoi thóp, cơ thể còn ấm nóng nhưng không còn một chút sinh lực. Cái chết dữ tợn đang chậm chạp bước đến, các tế bào rồi sẽ lần lượt chết vì trái chôm chôm mỗi lúc một phình to và cô Gấm sẽ nằm bất động, ý thức, chờ đến lúc trái tim hoàn toàn ngừng đập.
Tôi nằm vật trên giường, hai hàm răng cắn chặt vào mép áo để khỏi phải hét lên. Vì cuồng điên và  bất lực.
Tâm trí tôi mờ ảo như một đám sương mù. Hai bên thái dương đau nhức, tôi thiếp đi trong một cơn mơ màng.
Giấc ngủ đã đến. Nhưng có lẽ đó không phải là giấc ngủ mà là một sự mê mệt, một sự quên lãng hoàn toàn. Từ trước đến nay chưa bao giờ tiềm thức của tôi lại chìm đắm trong một sự lãng quên đến thế, khó khăn lắm tôi mới có thể kéo dần tiềm thức trở về với thực tại, từng tí, từng tí một. Khi tỉnh dậy, tri giác của tôi vẫn không sao xác định được thời gian. Chỉ mơ hồ hiểu là trời sắp về chiều. Và tiếp theo cảm giác đó là nỗi sợ hãi.
Nó đã bám theo tôi ngay cả trong giấc ngủ.

Sự im lặng trong căn phòng bỗng làm tôi khó chịu. Tôi ngồi bật dậy mở toang cửa sổ. Những khối tháp bằng ciment án mất tầm nhìn. Có lúc tôi tưởng như tất cả những cao ốc đang sừng sững mọc lên trong thành phố này đang ngạo nghễ đè lên ngực mình. Cùng với nó là khói bụi, tường vách, ban-công, nóc nhà sắt thép đang đổ ụp. Tôi có cảm giác là thân thể mình mỗi lúc mỗi cứng đờ, và có lúc, trong cơn sợ hãi điên cuồng, tôi muốn khóc rống lên làm náo động cả cái thế giới này.
Không. Cần phải ra khỏi nơi đây. Phải đi ngay, đi ngay… nhưng trời đất bao la thế này mà tôi chẳng biết về đâu. Tôi không còn một chỗ nào để được yên thân. Tuy nhiên tôi hiểu là mình cần phải đi khỏi đây, cần phải thoát khỏi sự im lặng khủng khiếp này.
Và bất thình lình, tôi ngồi bật dậy lao ra hành lang.
Sau lưng là cánh cửa mở toang hoác. Và trong sự ngạc nhiên của nhân viên phòng nghỉ tôi thanh toán tiền phòng trong vội vã, lấy xe rồi phóng ra ngoài.
Tôi chạy trên đường đờ đẫn như một kẻ mộng du. Những hình ảnh và khuôn mặt bềnh bồng quanh mình như những bóng ma. Tôi nhìn mọi người, và có lẽ mọi người cũng nhìn lại tôi, nhưng tôi như không thấy gì cả.Tôi không ý thức là mình đang nhìn cái gì. Mình đang chạy đi đâu. Chỉ có tay lái và tay ga không hiểu bằng cách nào cứ cho xe lao đi, chạy vun vút trên đường phố.
Một mối quan hệ nào đó bình thường điều khiển trí óc của tôi giờ đây như bị đứt đoạn. Tôi lái xe mà như không chủ đích, cứ  giữ tay lái và chạy, tiến mãi về phía trước như muốn bỏ lại nỗi sợ ở phía sau lưng. Có lúc tôi đi bình thường, có lúc tôi như đứng lại, chỉ có con đường nhựa đang chạy dưới chân. Có lúc mọi vật đứng yên mà cũng có lúc những cột điện chao đảo, lắc qua lắc lại… và tôi tưởng mình sẽ ngã. Những lúc ấy, theo bản năng tôi cố giữ thăng bằng và chạy chậm...
 Phản xạ  đưa tôi chạy về  phía cầu Bình Triệu nhưng tôi không  về  nhà mà rẽ xe qua Thanh Đa, về hướng Bình Quới.
Đến một góc khuất tôi dựng xe rồi bước dọc theo bờ sông. Tôi đi rất lâu và khi đã mệt nhoài tôi vẫn bước tiếp mặc cái mệt rã rời trong cơ bắp. Đi, đi mãi và cuối cùng tôi tìm được một nơi vắng vẻ và cạnh đó một bãi cỏ xanh. Mới đầu tôi ngồi nhưng chỉ một lát tôi thả người nằm ngửa ra bất động, hai cánh tay và đôi chân giang ra thành hình chiếc thập tự trên nền cỏ xanh mềm; Tôi nằm yên và nhắm mắt lại. Sự vĩ đại của cơn mệt nhọc tự nó đã làm giảm bớt căng thẳng. Nó không cho phép một cảm giác bất kỳ nào khác ngoài sự dễ chịu khi sự căng thẳng rời dần khỏi các cơ bắp. Tôi hít thở như lời bác Thuận dạy: “Hít vào sự bình an. Thở ra, thãi  những lo âu, sợ hãi hay căng thẳng”.
Nằm yên như thế một đỗi lâu tôi thấy người dễ chịu. Tôi chuyển thế nằm sấp, chống hai khuỷu tay ra phía trước, hai bàn tay chống lấy cằm rồi ngắm nghía những đường vân trên những chiếc lá nhỏ nằm trước mặt mình. Có lúc tôi ngắt một bông hoa dại, làm những sợi cỏ đung đưa, run rẩy. Nhìn chán, tôi xoay người nằm ngửa, cảm nhận hơi ấm của thảm cỏ dưới lưng mình. Trên cành cây, những chiếc lá có thứ màu xanh mượt mà khác hẳn những chiếc lá ửng vàng bám đầy bụi bặm trong thành phố. Các lá cây bất động treo trên nền trời vàng chanh bóng loáng. Vẻ xanh xao của bầu trời càng làm cho ánh sáng chiều yếu dần. Tôi ấn mạnh lưng xuống đất và chợt cảm thấy một sự khoan khoái nhè nhẹ trong các cơ bắp. Nằm một lát tôi chống tay đứng dậy, đi dọc bờ sông, nhìn bóng mây phản chiếu trên mặt nước. Có hai bầu trời. Một trên cao. Một dưới thấp. Đường chân trời xa tắp, không biết đâu là giới hạn.

Chiều xuống. Tôi nhìn những mảng lục bình đang bập bềnh trôi. Nắng đã tắt gần hết; Chỉ còn sót lại một mảng nắng trên đọt cây cao. Lòng tôi tự nhiên chùng xuống. Tôi chưa hiểu tại sao bên một dòng sông… trong cái thời khắc của buổi chiều tàn lại gây xúc động tâm hồn mình đến thế. Có lẽ giữa phút giao hoà của ngày và đêm, sự phối hợp của nắng vàng và bóng tối đang choàng lên tạo vật một sắc màu lung linh huyền bí.
Bầu trời  chiếu sáng mờ mờ,  xanh và rộng như một đại dương phẳng lặng. Bên góc trái còn có một mảnh trăng lưỡi liềm, lơ lửng như treo giữa mênh mông thăm thẳm.
Gió nhè nhẹ thổi. Trời đang trong bỗng mây trắng ở đâu chậm chạp kéo về, bay từ hướng  đông nam qua tây bắc. Những tầng mây, mới đầu lẻ tẻ, thưa thớt nhưng chỉ trong chốc lát chúng kết hợp  thành nhiều khối, rồi đột  ngột hiện ra như  muôn nghìn đền đài đồ sộ; mỗi khối có kích thước lớn hơn ức vạn ngôi đền thông thường mà con người xây dựng xưa nay. Nó có những đỉnh cao như toà tháp, những mái bằng nhô cao, vạt thấp, những hình trôn ốc được chạm khắc, đường nét đậm nhạt uyển chuyển giữa trời… hình ảnh xem giống Angkor-wat, mà còn vĩ đại hơn Angkor-wat hàng trăm hàng vạn lần.
Nhưng có lẽ tôi không nên gọi nó là Angkor-wat, mà phải gọi là đại vực, là Grand Canyon vĩ đại và đồ sộ.
Một bức tranh thiên nhiên kỳ tuyệt hiện lên sừng sững giữa trời cao.
Xung quanh khối tháp bên phải có ánh nắng chiếu vào, do một khúc xạ và phản chiếu kỳ ảo, ánh sáng biến thành những đường viền màu trắng, làm những đền đài kia càng thêm sáng chói và rực rỡ.
Màu sắc của  đại vực lộng lẫy và biến hoá vô lường.
Tôi nhìn sững cảnh sắc kỳ lạ đó như kẻ bị thôi miên.
Thời khắc như dừng lại, và cảnh đền đài đồ sộ hiện giữa không trung  kéo dài đâu chừng vài  phút.
Bởi, sau mốc thời gian đó, một điều kỳ lạ đã xảy ra.
Gió!
Bầu trời chuyển động. Gió nổi lên. Mỗi lúc mỗi mạnh. Những khối mây vần vũ, dịch chuyển, đổi ngôi. Có một khối  tháp lớn bay qua, che khuất,  như va chạm vào ngôi đền làm tường thành ập xuống. Trên thinh không những vân sóng đồng tâm, tầng tầng lớp lớp loang ra, lan rộng.
Theo làn sóng những đền đài, miếu mạo bị chấn động, run rẩy, tự dát mỏng, biến dạng rồi  chìm đi. Mất hút.
Cảnh tự xoá diễn ra chậm chạp. Trịnh trọng và thần bí như tuân theo một nghi lễ trang nghiêm.
Bất ngờ hiện ra, đột ngột biến mất.
Tất cả những hình tượng đó chợt làm tôi thấy rõ sự sụp đổ; như sự tan vỡ của ảo tưởng. Và ngộ ra sự trần trụi của phù du.
Mọi phiền muộn, lo toan trong đời đều điên rồ, vô nghĩa.
Rồi cuốn hút trong chấn động của vân sóng, những lo âu, phiền muộn bỗng chốc tiêu tan; Tình yêu, khổ đau, bệnh tật, hạnh phúc, tử sinh chỉ là hư ảo.
Tất cả đều bị xoá mờ.
Trên bầu trời phút chốc chỉ còn một màu mây xám.
Những tảng mây  không còn hình thù gì rõ nét.
Dưới ánh hoàng hôn, lác đác có vài khối mây riêng lẻ. Có khối vàng vọt  nhưng cũng có khối sẫm đậm màu da cam.
Phần lớn đã tự dát mỏng và phân tán như muôn nghìn lông ngỗng, vắt vẻo giữa trời.
Dòng sông trước mặt vẫn đang chảy nhẹ nhàng thoải mái trước mắt tôi. Tiếng nước chảy rì rào. Tôi đến sát bờ, soi mình trong dòng nước. Tôi nhìn thấy khuôn mặt và mái tóc xoả dài phản chiếu trên mặt gương. Dường như trong mờ mờ nhân ảnh còn có cái gì của quá khứ, của hiện tại và của tương lai đang quyện vào nhau. Kiếp trước, kiếp sau, đời này tiếp nối. Khuôn mặt dừng lại vài giây, như nhìn lại tôi, rồi, bất chợt một con nước xoáy, bóng ảnh kia tan biến.
Ngay lúc ấy, tôi thấy một cơn đau, nhói lên giữa ngực. Nhưng tôi chỉ khẽ đặt một bàn tay lên ngực mà không sợ hãi. Tôi biết  rồi sẽ có một cơn đau sung sướng, hiệu quả như một nhát dao chí mạng, vết thương vỡ mủ, ứa ra… sau đó tất cả sẽ chấm dứt. Và cuối cùng máu sẽ phọt ra  từ hai trái phổi, phù phù rửa hết những đau thương và bất hạnh.
Đây đó, mây tản mác thành những mảng đen lấp loáng, như vết dầu loang trên biển.
Chiều đang xuống nhanh. Mặt trời sắp tắt…

Trích tiểu thuyết  “Bàn tay nhỏ dưới mưa”
(Công ty văn hóa Phương Nam & Nhà xuất bản Hội nhà Văn -2011)
(từ trang 320-327)


hai bàn tay thì đầy

(Đọc Bàn tay nhỏ dưới mưa, tiểu thuyết của Trương Văn Dân, Nxb Hội Nhà văn, 2011)

Đọc một cuốn tiểu thuyết dài hơn 400 trang trong bối cảnh đời sống hiện nay quả là một việc không mấy dễ dàng ngay cả với những người được coi là chuyên tâm nghiên cứu văn học. Vậy mà tôi đã đọc tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa của Trương Văn Dân một cách say sưa, nhiều khi lén lau nước mắt vì sợ người khác nhìn thấy sự mềm lòng của một người đàn ông tuổi ngoài sáu mươi vẫn được bạn bè và đồng nghiệp coi là cứng rắn, vững vàng trong cuộc sống. Cái định đề “Quy luật của nghệ thuật là quy luật của tình cảm” mà ai đó, lúc nào đó cho rằng “xưa rồi Diễm ơi!”, nay tôi lại thấy thật đúng và thật tâm đắc.
Một kiếp người như Gấm – nhân vật chính đứng ra kể chuyện đời mình bằng nhật kí – thật khổ hạnh và bi ai trong một xã hội mà đôi lúc chúng ta ảo tưởng rằng đã là thiên đường giữa trần gian. Ở độ tuổi xấp xỉ bốn mươi, trải qua hai đời chồng, có một cô con gái nhỏ thơ ngây (tên Liên), Gấm mới bắt đầu đi tìm hạnh phúc cho mình. Tìm và gặp, cuối cùng thì Gấm đã gặp được Anh (làm nghề báo, vợ và con mất trước đó), cùng một cảnh ngộ, có thể tri âm tri kỉ. Đến bây giờ Gấm mới nhận biết được, thấm thía được tình yêu và mới thấy “như yêu lần đầu”, mới thấy “hạnh phúc thật ra ở ngay trong những điều nhỏ nhặt”. Gặp được Anh, Gấm mới “ngộ” ra được nhiều điều sơ đẳng mà lại như là chân lí của đời sống. Nhưng số phận của Gấm thật éo le và tột cùng đau đớn. Đúng khi tưởng như nắm giữ được hạnh phúc với người đàn ông của đời mình (“một nửa” của mỗi con người), thì Gấm lại phát bạo bệnh (bị ung thư). Tất cả vỡ vụn và sụp đổ tan tành trong con người Gấm. Một lần đã lâu, tôi có đọc một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Đumbatze nhan đề Quy luật của muôn đời, có một ý ngẫm thấy thú vị: trong đời mỗi người, nên có một lần nằm trong bệnh viện, đó là dịp tốt nhất để ta suy ngẫm chín chắn về giá trị, ý nghĩa của con người và đời sống. Lần này Gấm phải đối diện với cái chết, vì thế cũng là lần đầu tiên chị ý thức được “Tôi là ai? Là con Gấm? Là đứa bé bị đời bạc đãi, là người con gái trôi sông lạc chợ, bám víu vào những cuộc hôn nhân, thực chất là bè gỗ mục, chấp chới giữa dòng chảy xiết? Tôi là kết tinh của sự bất hạnh hay là người phụ nữ được yêu, được vỗ về, che chở để có thể tự cho mình là người hạnh phúc nhất trần gian? Tôi là một, hay là tất cả những hình ảnh phản chiếu từ những chiếc gương xung quanh mình do cuộc đời sắp đặt: tôi phản chiếu thành bóng trên gương và bóng lại phản chiếu lên những tấm gương khác, tạo thành chuỗi hình ảnh vô cùng vô tận. Phản chiếu của phản chiếu, hình ảnh của hình ảnh, cùng với tiếng vọng của âm thanh pha lẫn giọng cười, tiếng khóc?”.Cũng lần đầu tiên, do phải đối mặt với cái chết, Gấm bắt đầu ý thức được vấn đề “thân và tâm” của một cá thể người. Cái chết của Gấm, đáng lí là bi đát, nhưng do “ngộ” ra được cái tất yếu, cái vô hạn của cuộc đời và cái hữu hạn của kiếp người, nên lại “nhẹ tựa lông hồng”. Gấm đã bay vào cõi vô cùng, để cuối cùng “cát bụi trở về với cát bụi”. Gấm cảm thấy hạnh phúc vì “Còn tôi, tôi đã về lại với chính mình. Hòa nhập vào thiên nhiên có lẽ là phần vi diệu nhất trong tất cả những gì hiện hữu dưới ánh sáng mặt trời”. Như thế là Gấm đã ngộ ra được lẽ tử sinh, đã ý thức được cái giới hạn vươn lên cõi vô cùng của con người trong thế giới này.
Lối viết của Trương Văn Dân trong Bàn tay nhỏ dưới mưa, thoạt trông có vẻ như rất thật theo cái triết lí “khôn ngoan chẳng lọ thật thà” của dân gian. Trong phần kết Tro bụi và Trần gian, nhân vật Anh (xưng Tôi) viết“Câu chuyện mà các bạn đang đọc được viết lại theo nhật kí của Gấm (…). Qua những trang viết của Gấm, tôi chỉ làm công việc chủ yếu là sửa vài lỗi chính tả, viết xen vào vài đoạn cho câu chuyện mạch lạc. Còn phần nội dung và cảm xúc thì tôi cố gắng giữ nguyên, dù đôi khi những ý tưởng của Gấm mâu thuẫn hay rối rắm, phản ảnh một tâm lí rối ren tất yếu phát sinh từ những uẩn khúc, sợ hãi, khát khao trong những ngày cuối đời của nàng”. Tuy được biện minh như thế nhưng độc giả nhận thấy cái thật của câu chuyện không phải là “thật như đếm”, mà đã được chăm sóc cẩn trọng, được tính toán đến từng ý, từng đoạn, thậm chí từng câu chữ. Sẽ có người coi sự “dài dòng” là một nhược điểm của tiểu thuyết này vì nó làm mất thì giờ của độc giả. Đúng là dài, nhưng dài không phải vì tác giả “độn” vào nhiều thứ, mà vì bản thân câu chuyện tình, trong trường hợp này, quả thực là miên man bất tận.
Tôi muốn nói đến văn phong của tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa. Lâu nay, khi bàn về tính hấp dẫn của một tác phẩm văn chương, ta thường nghiêng bàn về giá trị nội dung (về “chuyện” của một tác phẩm văn xuôi), đôi khi ít chú ý tới “văn chương là nghệ thuật ngôn từ”. Tôi thấy tác giả là một người có ý thức “làm văn”. Tại sao không?! Nhưng câu chữ  của tác phẩm lại giản dị một lòng yêu đời, yêu người. Đọc kĩ thấy rõ trước hết những gì được viết ra đều từ một cảm xúc run bật, chín và mạnh – chính điều đó dẫn dụ độc giả vào câu chuyện, vào các tình huống, tâm trạng, cảnh ngộ của nhân vật “Rồi vĩnh viễn yên nghỉ trong vườn địa đàng (…). Gấm như con bướm thoát xác, chỉ để lại vỏ kén. Còn hồn nàng vút lên trời, như quả pháo thăng thiên. Và tôi tin là Gấm còn biết rằng, dù nàng đã ra đi nhưng tình yêu thiêng liêng của nàng trong cuộc sống này không bao giờ mất (…). Giờ thì Gấm đã thành mây. Tôi có cảm giác rằng ngay lúc cảm thấy mình sắp chết, nàng đã ý thức rất rõ ràng về cái chết của mình. Nàng đã cảm nhận được sự tái sinh và cũng ý thức được rất rõ sự tái sinh của mình. Vì Gấm sẽ chờ tôi bên kia thế giới. Để cùng quay lại trần gian”.
Một cái kết không “có hậu”, nhưng có sao đâu khi cuộc đời không phải lúc nào cũng có hậu, cũng chia đều may mắn và hạnh phúc cho từng người vì “Tôi kinh hãi nghĩ đến những con thuyền neo bến mà không còn kẻ qua sông”. Một bạn văn của tôi đã đọc cuốn sách này và có ý cho rằng tác giả viết như không tính đến kĩ thuật. Đúng như thế. Nhưng phải nói lại rằng, trong bất cứ nghề gì, khi đã chín, đã sâu, đã tận tâm thì công việc cứ băng băng như là không cố ý cố gắng, nhưng hiệu quả lại cao, lại bền vững. Thật ra thì Trương Văn Dân đã thử bút trong truyện ngắn (Hành trang ngày trở lại - Tập truyện ngắn – Nxb Trẻ, 2007), nên ít nhiều có kinh nghiệm viết.
Gần đây tôi có đọc tiểu thuyết Một bàn tay thì đầy của Hoàng Việt Hằng (Nxb Phụ nữ, 2010). Nhưng tôi thấy Trương Văn Dân lại có cái tứ khác “hai bàn tay mới đầy”. Cả cuốn tiểu thuyết là nghệ thuật hoá ý tưởng sau “Trong cuốn nhật kí, giữa những trang giấy, tôi còn thấy có một tờ giấy ruột của quyển vở học trò được gấp làm tư. Khi mở ra, đặt lên bàn, tôi dùng bàn tay vuốt cho thẳng nếp. Trên mặt giấy có in hình hai bàn tay. Một bàn tay nhỏ bên trái và một bàn tay bên phải to hơn và khi gấp giấy thì hai bàn tay ấy chạm vào nhau. Mắt tôi ướt đẫm. Tôi nhớ đến những lần thấy Gấm và bé Liên xòe hai bàn tay phải áp vào nhau, rồi cười lên vui vẻ. Hai bàn tay ấy Gấm đã đặt trong quyển vở ghi chép tất cả những bí mật của đời nàng”.
Tôi nghĩ cuộc khám phá bí mật đời sống tâm hồn con người của tác giả Trương Văn Dân đã chạm tới thành công bước đầu rất khả quan./.

Hà Nội 4-2012
Bùi Việt Thắng
----------------------
* nguồn: xunau.org

kịp - trần thị cổ tích * thơ











đã dặn nhau
đừng đưa tiễn
tàu còn năm phút rời ga
sao cứ đăm đăm về một phía
cửa toa số 9
không anh

tàu còn bốn phút
gió lùa cửa toa số 9
thời gian căng dài khắc khoải
vội chi tàu ơi!

còn ba phút
lao vào
mớ tóc lòa xòa
đôi mắt kiếm tìm. Thảng thốt
nắng ban trưa dìu dịu mơ màng

vẫn còn kịp mỉm cười
vẫn còn kịp bắt tay
vẫn còn kịp cài nụ hôn lên tóc
và kịp thấy
trong đáy mắt nhau
những giọt lệ vẫy vùng...