Thứ Năm, 31 tháng 5, 2012

nửa đời chưa hiểu hết các em - nguyễn đăng trình

         










năm mươi tuổi mà còn tơ mơ quá
nên thường xuyên ta bị mấy em đùa
nói một đàng mấy em làm một ngả
cuộc tình nay dăm bữa cuộc tình xưa

hứa bao điều để một điều chẳng nhớ
quá cả tin ta rất đỗi gà mờ 
làm một điều để bao điều khất nợ
quá ngô nghê ta thua đứa dật dờ

hết em này lại hàng trăm em khác
hứa rồi quên quên rồi hứa lòng vòng
ta lấn cấn giữa trắng đen giả thật
lâu quen dần em có đó rồi không

có rồi không các em ta vẫn sống
bởi trên đầu còn rộng khoảng trời yêu
tập trái tim bốn mùa luôn độ lượng
biết đâu mai nhận lại một đôi điều...


linh nghiệm - trần huy quang


viết báo thời vô cảm - nguyễn thanh hà


 






Hơn 40 năm, kể từ bài báo đầu tiên được đăng trên báo Quân đội Nhân dân tháng 1-1959, đến nay đã 53 năm liên tục cầm bút viết văn, viết báo, đôi khi còn làm thơ nữa. Cái nghề buộc tôi phải sống chết với nó. Tôi đã dặn các con tôi rằng, nếu bố nhắm mắt xuôi tay, các con đừng dùng hai hòn gạch chỉ hoặc ba cái bát ăn cơm làm gối mà nên cuộn một tập báo trên bàn làm việc của bố thành cái gối gối đầu cho bố.
Hơn 50 năm làm nghề báo mà đôi khi vẫn thấy loạng choạng về cái nghề "khó nhai" này. Hồi còn bao cấp, làm báo ở một cơ quan thông tin Nhà nước, tiếng thì oai, nhưng thực chất thì cũng bình thường thôi. Nhiều người bảo làm ở TTX suốt đời ở xã, chẳng bao giờ được lên "Thông tấn huyện". Chuyên đi "săn tin" mà những tin mình viết ra có bao nhiêu phần trăm là dối trá, là đánh lừa người đọc, thì chính bản thân mình mới biết. Làm báo thời bao cấp cực lắm, không giống như các "ông quan báo" thời @ này. Vào cơ quan 7 năm mới được cái phiếu công đoàn phân cho mua chiếc xe đạp Thống Nhất cung cấp, sau đổi lấy cái "Phượng Hoàng" sử dụng cho đến nay chưa hỏng.
Năm 1971, mấy ông lãnh đạo thương tôi đi nhiều mà toàn là "mũi nhọn" của cuộc sống, đã duyệt bán thanh lý cho tôi một cái mô tô cũ nhãn hiệu "MZ" của Đức. Giữ nó 21 năm mới chịu thải. 
Đi nhiều, tiếp xúc nhiều, vỡ ra nhiều điều. Không dám khoe với anh đâu, tôi đã từng được tháp tùng Bí thư thứ nhất Lê Duẩn một tuần liền công tác tại Thanh Hóa, đi với Thủ tướng Phạm văn Đồng dự hội nghị tổng kết thủy sản ở Hải Phòng, tháp tùng Phó Thủ tướng, nhà thơ Tố Hữu về tỉnh "5 tấn" Thái Bình, liên tục đi công tác miền Bắc, miền Nam với mấy đời Bộ trưởng Bộ thủy lợi, từ ông Hà Kế Tấn đến Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Cảnh Dinh, đã từng làm Trưởng Phân xã TTXVN ở Thái Bình, Hải Hưng, cùng ăn, cùng ngủ với chủ nhiệm HTX nông nghiệp Vũ La ở Nam Sách Hải Dương, đã lăn vào các phong trào "Sóng Duyên Hải", "Gió Đại Phong" và lăn lộn với đồng bằng sông Cửu Long, sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước...
Anh Phạm Viết Đào, anh chịu khó nghe tôi "rườm rà" đôi chút trước khi đi vào cái lõi của vấn đề... Dân tộc ta, dù là người Kinh hay người thiểu số, dù là cư dân thành phố hoặc nông thôn, đi đến đâu, tiếp xúc với rất nhiều tầng lớp, rất nhiều hạng người, bao giờ tôi cũng nhận được sự ấm áp tình người, yêu thương, đùm bọc của cán bộ và nhân dân. Tôi có nhiều kỷ niệm rất đẹp về sự giao tiếp ấm áp tình người ấy. Nhưng, khổ nỗi ở đời lại cứ vấp phải chữ "nhưng". Sự nghiệp "đổi mới" do đảng và Nhà nước ta khởi xướng và lãnh đạo, bên cạnh những thành tựu, nảy sinh và phát triển nhiều mặt của đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, quan hệ ứng xử... càng ngày càng gây khó chịu, bất bình đối với nhân dân lao động. Tôi còn nhớ, khi được Trung ương phân công phụ trách Ban nông nghiệp trung ương, đồng chí Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã "lăn vào" nông thôn, quyết tìm ra một hướng đi cụ thể dìu dắt nông dân. Về hợp tác xã Thư Thị (huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên) đồng chí "Tướng Nông nghiệp ấy" ngủ lại HTX, thức cả đêm nói chuyện với nông dân và rất buồn khi thấy gia đình nông dân lúc bấy giờ chưa đủ màn ngủ đêm trong khi nông thôn rất nhiều muỗi. Làm cán bộ lãnh đạo gần như cao nhất về với nông dân mà có cái tâm như vậy làm gì mà nông dân không yêu, không quý. Ngày nay, càng "hô" chống quan liêu thì cán bộ càng có nhiều cách quan liêu, quan liêu đến đáng sợ. Tôi đã hơn 20 năm sống ở nông thôn, tôi biết rõ cán bộ xã hiện nay rất ngại tiếp xúc với dân, mặc dù dân là cử tri cầm lá phiếu bầu họ giữ chức này chức khác. Ông bí thư đảng ủy, ông Phó Bí thư đảng ủy xã vốn là bộ đội xin vào Hội CCB cơ sở bằng được, nhưng sau đó, không một cuộc họp nào của chi hội có mặt hai ông này. Cán bộ xã ngày nay, không chỉ là bí thư chủ tịch mà các vị đầu ngành, cán bộ giúp việc UBND xã cũng nhiễm đâu được cái tính lạnh nhạt với dân, vô cảm với dân và rất ngại tiếp xúc với dân. Ông cán bộ địa chính xã tôi một thời "ngốn" rất nhiều đất đai, đất là tiền và tiền vào túi cán bộ địa chính và cán bộ chỉ đạo, rất sợ tiếp xúc với dân. Ngày này qua ngày khác, ông ta ngồi lì ở văn phòng, và lúc nào cũng bận chỉ khi cần đi đo lại ruộng, đi làm sổ đỏ... là ông hăng hái nhất vì tất cả các khoản giấy tờ quan trọng ấy đều phải có khoản lót tay, đôi khi lên đến 25, 30 triệu một cái bìa đỏ chứng nhận quyến sử dụng đất ở, đất canh tác.
Có điều lạ là bất kỳ chỗ nào có cán bộ Nhà nước tiếp xúc với dân đều gặp sự vô cảm đến tàn ác, đến khó hiểu. Cải cách hành chính sinh ra chế độ một cửa, nhưng không thiếu gì cơ sở có "một cửa nhưng lại nhiều khóa" người dân muốn có được một loại giấy tờ nào đó chí ít phải đi lại nhiều lần và thế nào cũng phải có khoản lót tay. Sử dụng phương tiện vận tải trên quốc lộ sợ nhất các chốt kiểm tra, cứ trông thấy cảnh sát giơ tín hiệu là toát mồ hôi, có ngày phải 5 mười lần "làm luật" mới đi trót lọt, nhất là váo dịp sắp đến Tết hoặc ngày nghỉ lễ dài ngày. Người dân rất sợ phải vào bệnh viên khi ốm đau. Các loại cán bộ có sổ bảo hiểm, người dân có sổ bảo hiểm y tế tự nguyện đều phải qua tay một bác sĩ, trông cũng đẹp gái và hiền lành, nhưng ngồi đấy, không bao giờ thấy cô bác sĩ ấy đặt cái ống nghe vào ngực người bệnh, chỉ buông thõng hỏi mấy câu rồi ghi ghi cái gì đó vào sổ khám bệnh, người bệnh đi lĩnh thuốc mà chỉ giới hạn giá trị thuốc độ vài ba bốn chục nghìn là được rồi.
Có thể nói, sự vô cảm đang là căn bệnh lây lan nhanh và không phương cứu chữa ở rất nhiều cơ quan, rất nhiều cán bộ nhân viên được Nhà nước trả lương để tiếp và giải quyết công việc có liên quan đến người dân. Vào cơ quan công an, gặp ông công an "đầy tớ của dân" luôn học tập làm theo "6 điều Bác Hồ dạy" với bộ mặt lạnh như tiền, ăn nói nhát gừng, gọi trống không. đến bệnh viện va phải những "lương y như từ mẫu" lạnh lùng với bệnh nhân một cách đáng sợ, xin ngụm nước lã khi đang khát vẫn phải có 10 nghìn, lên UBND xã, vào Phòng Một Cửa gặp ngay một "ông cán bộ trẻ hỏi trống không một câu "Cần gì?".
"Cán bộ ký văn bản đi họp, hãy đợi đấy" mặc dù người dân đáng tuổi ông anh cán bộ kia. Thậm chí, ở một môi trường giáo dục, một số giáo viên hoặc cán bộ nhà trường khi tiếp xúc với dân, tiếp xúc với phụ huynh học sinh cũng "vô cảm" không kém các đối tượng khác... Tôi không thể nào kể ra đây muôn vàn trường hợp "vô cảm" của những người "đầy tớ" nhân dân, chỉ có thể nêu lên mấy hiện tượng có tính chất điển hình. 
Người Việt nam mình đâu có đến nỗi như vậy. Vậy thì do đâu, có người bảo do "ông giáo dục" người thì bảo "do cha mẹ chúng không dạy từ nhỏ" người lại kết luận do cả một hệ thống chính trị quan liêu, quen ức hiếp dân chúng, quen cái thói vô cảm hống hách rồi... Mỗi người nói một phách về nguyên nhân của sự vô cảm. Còn nhà văn Phạm Viết Đào, theo anh, sự vô cảm do đâu?./.
-------------------------
* nguồn blog phamvietdao 
         

hương ngọc lan - trần thị thanh hải










1.
Thuở nhỏ, Thanh rất yêu hoa ngọc lan, không chỉ vì những búp hoa trắng nõn thon dài như ngón tay của người thiếu nữ dây thì, mà còn vì mùi hương rất đỗi quyến rũ của ngọc lan.
Vườn nhà không trồng hoa ngọc lan, may mà ở cuối xóm nơi nhà Thanh ở, có một ngôi nhà cổ. Ngôi nhà có một khu vườn rất rộng, trồng đủ các loại cây, từ cây ăn trái đến các loại hoa kiểng, ở góc trái của khu vườn là một cây hoa ngọc lan rất to, cứ mỗi buổi đi học về, ngang qua ngôi nhà, bao giờ Thanh cũng bị mùi hương ngọc lan quấn quít, níu giữ chân mình.
Cậu con trai của chủ nhân ngôi nhà trạc tuổi Thanh, có lẽ nhỉnh hơn một chút, dáng người mảnh khảnh, có nụ cười thật hiền và giọng nói nhẹ như gió thoảng.Thấy bóng Thanh tha thẩn trước cửa nhà, cậu lại nhanh chân ra mở cổng, cho Thanh vào hẳn trong vườn. Thanh cất cặp cẩn thận ở một gốc cây rồi cúi nhặt tất cả những nụ ngọc lan vừa rụng xuống đêm qua.Cậu chủ nhà nhìn Thanh bằng đôi mắt ngạc nhiên và hỏi:
- Nhặt làm chi rứa?
Thanh chỉ cười không đáp, cẩn thận cất những nụ ngọc lan vào túi áo, rồi hí hửng ra về có khi còn quên chào cám ơn cậu chủ.
Những lần sau, Thanh không cần phải cúi nhặt hoa ngọc lan nữa, vì cứ hễ thấy Thanh xuất hiện ở cánh cổng nhà, câu chủ nhà lại chạy ra và bao giờ cũng thế câu cũng đã chuẩn bị sẵn cho Thanh một bọc đầy hoa ngọc lan, có khi là những nụ hoa rất tươi được hái từ trên cây xuống.
Tóc của Thanh cắt ngắn nên chẳng thể cài ngọc lan lên tóc để làm dáng. Tất cả những nụ hoa được Thanh cất cẩn thận vào một cái túi vải, tối ngủ để dưới gối, nửa đêm thức giấc mùi hương ngọc lan ngan ngát cả căn phòng, sáng thức dây sửa soạn đi học, chải tóc Thanh còn nghe hương ngọc lan thoang thoảng trên những sợi tóc của mình.
Và dường như đêm nào không ngửi được mùi hương ngọc lan Thanh lại cảm thấy bồn chồn khó ngủ, Thanh cũng chẳng biết từ bao giờ và chẳng biết vì sao mình lại yêu hoa ngọc lan đến thế.

2.
Ngày Thanh đậu vào đại học cả xóm đến chúc mừng, bố mẹ làm cho Thanh một bữa tiệc nhỏ để mời bạn bè đến chia tay trước khi Thanh đi học. Tất cả bạn bè hồi học cấp ba, cả những đứa bạn cùng trang lứa trong xóm đều được mời đến. Chẳng hiểu loay hoay thế nào Thanh lại quên khuấy mất cậu chủ ngôi nhà cổ cuối xóm, người vẫn thường dành cho Thanh những nụ hoa ngọc lan trắng muốt.
Buổi sáng Thanh lên đường, cả nhà ai cũng thức dậy sớm, mẹ đã dậy từ sáng sớm nấu xôi ủ cho Thanh để ăn đi đường. Bố cũng đã thức đang trầm ngâm tư lự bên khay thuốc lào, tiếng rít thuốc nghe lọc xọc. Đang loay hoay với những giỏ đồ lỉnh kỉnh, bỗng Thanh nghe một tiếng gọi khẽ khàng từ ngoài cổng:
- Thanh ơi!
Thanh chạy vội ra ngoài sân, trời còn tờ mờ chưa nhìn tỏ mặt người, cậu chủ nhà đứng phía ngoài cánh cổng gỗ màu xanh, với tay vào phía trong đặt vào tay Thanh một gói giấy nhỏ, giọng nói như thì thầm:
- Chừng mô lên xe hãy mở ra xem.
Chưa kịp nói lời cám ơn, bóng người đã biến mất. Thanh đứng lặng giữa sân, trong gió sớm mùi hương ngọc lan như thoang thoảng.
Xe rời bến, bỏ lại sau lưng thành phố quen thuộc và những người thân, Thanh tò mò mở gói giấy, sau lần giấy là một chiếc túi vải được may rất cẩn thận, miệng túi được viền bằng những mũi thêu rất khéo, bên trong túi là những đóa ngọc lan còn ướt đẫm sương đêm, có lẽ chúng vừa mới được hái từ trên cây xuống vào sáng sớm nay.
Thanh ủ những đóa ngọc lan vào lòng bàn tay mình, và suốt chặng đường trong giấc ngủ chập chờn đứt quãng vì nhịp lắc của xe, mỗi lần giật mình thức dậy, mùi hương ngọc lan vẫn quấn quít vấn vít như một nỗi nhớ thương.

3.
Hè năm ấy Thanh về thăm nhà, gói quà của cậu chủ ngôi nhà cổ vẫn còn nguyên trong túi xách, Thanh mở ra ngắm nghía những đường thêu thật khéo trên miệng túi, những nụ hoa ngọc lan vẫn còn đủ nhưng bây giờ đã ngã qua màu đen, khô khốc, mùi hương cũng không còn quyến rũ nữa,
Buổi trưa, cái oi nồng của mùa hè làm Thanh bồn chồn khó ngủ, cái bồn chồn giống y như những đêm năm trước Thanh không ngủ được vì nhớ đến hương ngọc lan, tự nhiên Thanh ngồi bật dậy và như có điều gì thôi thúc, hay như một thói quen? Thanh bước ra con hẻm nhỏ, đi về phía cuối xóm, nơi có ngôi nhà cổ.
Thanh đứng tần ngần trước ngôi nhà quen thuộc, không có ai ra đón… cổng nhà vẫn khép hờ, Thanh lách người nhẹ nhàng vào hẳn sân nhà. Khu vườn vẫn không thay đổi, cây hoa ngọc lan còn đó tỏa hương thơm ngát, vài bông hoa theo gió rụng xuống sân, Thanh cúi xuống nhặt những nụ hoa đặt vào giữa lòng bàn tay mình, hít hà mùi hương quen thuộc …một tiếng động rất khẽ, một người đàn bà bước ra từ sau cánh cửa ngôi nhà, giọng nói nhẹ nhàng:
- Cô tìm ai?
Sự xuất hiện đột ngột của người đàn bà khiến Thanh bối rối đánh rơi những nụ hoa ngọc lan đang cầm trên tay xuống đất. Thanh lúng búng trong miệng không thành tiếng:
- Dạ …cháu tìm..
Rồi như chợt hiểu người đàn bà nói nhanh:
- À! Chủ cũ ngôi nhà nầy đã dọn đi nơi khác mấy tháng nay rồi.
Thanh nghe như có bàn tay ai đó bóp nhẹ lấy trái tim mình, cái cảm giác nhói đau thật khó chịu, cô thấy như cả thân mình như đang chao đảo.
Thanh đứng chôn chân giữa sân vườn, cội lan già vẫn tỏa tán rợp bóng, qua khe lá, bầu trời xanh không một gợn mây, gió thổi xào xạc, những cành ngọc lan đu đưa, một vài cánh hoa theo gió rụng xuống vai áo của Thanh thỉnh thoảng từng loạt một. Tự nhiên Thanh nghe sống mũi mình cay sè, Thanh đưa tay chùi nhanh giọt nước mắt vừa ứa ra ở khóe mi.
Người đàn bà khi nãy đã vào hẳn trong nhà
Gió vẫn thổi và hương ngọc lan vẫn lan tỏa bồn chồn….
Tháng 3/2011
------------------------ 
* nguồn: xunau.org



Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012

báo nhà nước phê nhau là "lá cải" - BBC


Ba tờ báo lớn ở Việt Nam công khai chỉ trích nhau vì định nghĩa thế nào là “báo lá cải” và chạy theo lợi nhuận trong bối cảnh chính quyền tăng kiểm soát chung với báo chí.

Tranh cãi bắt đầu khi báo Sài Gòn Giải Phóng và báo Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh chạy loạt bài phê phán một vài tờ báo có những phụ trương “câu khách, không phù hợp thuần phong mỹ tục”.






 
Ngay lập tức, báo Đời sống & Pháp luật, một đối tượng bị chê bai, phản kích lại với ngôn ngữ nặng nề không kém.
 Cả ba tờ đều trích dẫn những nhân vật có vai vế trong làng báo và chính trường để tăng sức mạnh cho mình.

"Thảm họa"
  
Trong ngày 28/5, hai tờ báo có trụ sở ở TP. HCM, Sài Gòn Giải Phóng (SGGP) và Phụ nữ TP. HCM, đồng loạt đăng bài kêu gọi siết chặt quản lý trước tình trạng “một số cơ quan báo chí chạy theo lợi nhuận, sinh sôi, nảy nở ‘báo lá cải’”.
 Báo SGGP, tiếng nói của Đảng bộ Đảng Cộng sản tại TP. HCM, lưu ‎ý hiện tượng các tờ báo ra mắt phụ trương “sa đà vào phản ánh ‘tư, tình, tội’ với văn phong giật gân, câu khách”.
 Bài này dẫn lời ông Bùi Huy Lan, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Báo chí – Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Cục Báo chí – Bộ Thông tin – Truyền thông), rằng “một số cơ quan báo chí, nhà báo đã chạy theo lợi nhuận mà đánh tráo giá trị”.
 Cũng trong bài, ông Nguyễn Văn Khanh, Trưởng phòng Báo chí – Xuất bản thuộc Sở Thông tin – Truyền thông TPHCM, tỏ ‎ý không hài lòng với Bộ.
 “Sở cũng đã có văn bản gửi Bộ Thông tin – Truyền thông kiến nghị xử lý, gửi trực tiếp tới các cơ quan báo chí có ấn phẩm vi phạm yêu cầu kiểm tra, báo cáo nhưng kết quả… vẫn như cũ,” ông Khanh được dẫn lời.
 Tờ báo vẫn được xem là thuộc dòng báo của Đảng than phiền:
 “Trong khi các cơ quan báo chí phải phát huy giá trị xã hội trong điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, thì các ‘báo lá cải’ lại thỏa sức ‘câu’ bạn đọc bằng các thông tin trơ trẽn về tư, tình, tiền, tù tội, vi phạm nhiều quy định của Luật Báo chí nhưng không thấy cơ quan quản lý báo chí xử lý.”
 Cùng ngày, báo Phụ nữ TP. HCM kêu than tình trạng “chỉ đua nhau biến trang báo ‘càng lá cải càng tốt’ để câu khách, bất chấp tính định hướng dư luận và giáo dục của báo chí, bỏ qua thuần phong mỹ tục Việt Nam”.
 Khác với báo SGGP chỉ viết tắt các ấn phẩm, báo Phụ nữ TP. HCM nêu đích danh một loạt các tờ báo, trang mạng bị cho là “đang tạo nên mối lo ngại lớn cho toàn xã hội”.

Chiêu "bôi bẩn"
  
Chừng 24 tiếng sau, tờ Đời sống và Pháp luật (ĐS&PL) vốn bị SGGP gán nhãn “hãi hùng nhất trong việc ‘trồng cải’”, phản công, nói họ đã gặp trò ‘cạnh tranh bôi bẩn’.
 Như để chứng tỏ ấn phẩm của họ là ‘chân chính’, tờ báo này, trực thuộc Hội Luật gia Việt Nam, công kích lại thông qua hai phụ trương bị hai tờ kia xem là ‘trơ trẽn, thô tục’.
 Một loạt quan chức, đương nhiệm hay đã về hưu, được Người đưa tin (báo điện tử của ĐS&PL) dẫn lời, khen ngợi giá trị tờ báo.
 Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, cựu Thứ trưởng Quốc phòng, cảm thấy ‘bị xúc phạm’ khi ĐS&PL bị khinh rẻ là tờ báo ‘trơ trẽn’.
 Còn ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm UB Kinh tế của Quốc hội, khen tờ này đã ‘phân tích sâu’ vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng, và “không đồng tình với chuyện báo này chê báo kia lá cải”.
 Dường như không kiềm được phẫn nộ, ĐS&PL phê báo Đảng SGGP là “bị người đọc quay lưng, ngoảnh mặt”, còn Phụ nữ TP. HCM “chỉ chạy theo phục vụ các ‘đại gia’ nhiều tiền”.
 ĐS&PL nói qua loạt bài phê phán họ, hai tờ báo kia đã thể hiện cách làm báo “lá cải”.
 Những năm gần đây, ngày càng có nhiều than phiền cả trong độc giả và giới quản l‎ý về xu hướng “lá cải hóa” trên báo chí.
 Thậm chí trên trang mạng một số tờ báo được xem là có uy tín cũng không hiếm gặp những dạng bài bị xem là “rẻ tiền”.
 Nhưng dường như đây là lần đầu tiên các tờ báo nhà nước công khai phê phán nhau với ngôn ngữ nặng nề như vậy.
 Có ý kiến cho rằng vụ việc một phần phản ánh sự khó khăn tài chính của nhiều tờ báo hiện nay, vốn cho rằng thị phần của họ bị báo hoặc tin lá cải chiếm lĩnh.
 Đây cũng là tâm l‎ý bực bội có thật trong một số nhà báo trước tin giật gân câu khách tràn ngập và chính họ thì bất lực nhìn dạng bài ‘Cướp – Giết – Hiếp’ chiếm thượng phong trên mặt báo.


đoạn trường - nguyễn trí










Bảy Mẫu lừng danh Long Mỹ với nghiệp cờ bạc. Bảy mẫu đất, bò hơn hai mươi con. Tất cả đội nón ra đi bởi thâu đêm suốt sáng ở tùm lum sòng. Không môn chơi nào ở lãnh vực nầy Bảy không sành. Đủ sành để thua.
 Ba đứa con, Bảy giao cho vợ. Bà xã chỉ có bổn phận chăm. Vậy thôi. Mọi thứ bà không cần biết tới. Đất của tui, bò của tui, tui không để bà thiếu thốn là được rồi, còn tui làm cái gì, bà chớ có thắc mắc. Ý nầy chẳng qua con ma cờ bạc nó xúi. Ghiền rồi, lậm quá rồi. Mà sao kỳ vậy kìa? Hai chục con bò không còn một con. Bảy mẫu không còn một tấc. Cái lô thổ bà Bảy không làm dữ và giấu sổ đỏ, e là ba đứa con đã ra sân đình mà ở. Thua vậy sao không dừng lại? Ma mà. Ma đề, ma túy, ma cờ bạc, ma tình yêu. Một trong bốn con nầy ám vô ai người đó chết liền… Thần cỡ công an với ba cái lao động công ích cũng bó tay chịu phép. Hối hận đó, ăn năn đó, kiểm điểm đó, hứa đó… vừa cho về đã tọt vô sòng. Phải gỡ chớ, thua là phải gỡ. Gỡ riết cái ghẻ phải chảy máu… Có câu cờ gian bạc lận. Bọn cái nhử cho ăn đã đời, nửa đêm nó lấy lại, tới sáng là đi sổ đỏ. Lâu lâu lại cho cầm về nhà ra cái vẻ ta đây ăn bạc, mời bạn bè làm vài khung, vài két vui chơi. Hôm sau sạch bách thêm một câu đe: “Đù kịnh… Không giao sổ là ông nội mày dưới đất tao cũng lôi lên à…”. Không phải mấy tay huyện đề đã tuyên bố rằng: "Chỉ có cái mả mày xây là tao cho, chớ cái gì mày đang có là tao cho mượn”.
Bảy Mẫu phang bạt tai vô mặt vợ, gầm gừ như con chó cùng đường đòi sổ đỏ. Ba đứa con mười hai, mười, tám khóc như ri. Bảy gầm lên:
 - Tao biểu mày đưa là phải đưa, đất của tao…
 Đúng là ma ám. Đưa rồi đem cúng cho bọn cờ gian bạc lận, mẹ con ở vào đâu? Có điên mới đưa. Dứt khoát không là không, đánh chết cũng không. Lầm lì. Vợ Bảy trơ như đá.
 - Tao hỏi mày đưa không?
 - Tôi không đưa. Anh là người cha, người chồng vô trách nhiệm. Anh chỉ biết cái thân mình. Tôi là con nô lệ, đâu phải vợ. Thua nhiều rồi, còn lại lô thổ nầy tôi giữ cho mấy đứa nhỏ. Anh thua nữa, con cái ở vào đâu?
 Vợ Bảy nói tỉnh khô. Tỉnh là phải, quen quá rồi, đòn phép cũng nhiều rồi, cái gì mà không trơ ra, nhất là con người.
 Điên lên, Bảy thẳng một cái tát chí mạng. Người mẹ yếu đuối không chịu được té đập đầu vào cây cột gỗ căm xe. Cột vuông. Cạnh của nó làm vỡ đầu, máu ròng ròng chảy. Trong khi ba đứa con bu lại má ơi má hỡi thì Bảy Mẫu hầm hầm bỏ ra quán.
 Vợ Bảy chết trên đường đưa đến bệnh viện. Rõ, Bảy giết vợ, nhưng có ai biết đâu? Thằng con lớn nói má trượt chân té, hai đứa em ừ theo. Vậy là xong. Vụ nầy bể ra Bảy tù chắc. Cha tù con ở với ai?
 Sau đám, mắt Bảy đọng mù sương. Thấy Bảy không đến sòng, mấy thằng ăn bạc mò đến quán cà phê chỗ vẫn thường tụ tập sau tan sòng. Ba Đẻn vỗ bàn:
 - Ê, Bảy Mẫu. Tính sao mày? Đừng có nói với tao tan sòng là xong tiền nha.
 Bảy liều mạng:
 - Rồi tụi mày làm gì tao? Tao thách đó, tụi bây chơi gian lận. Lần nầy tao xù.
 Trời đất! Gan dữ a? Thằng nầy uống ít nhất ba chai thuốc liều. Xứ nầy ai chẳng biết đàn anh Ba Đẻn… Để thị uy Ba Đẻn lột áo đưa cái lưng con rồng và chữ hận to đùng, bộ ngực đầu lâu xương chéo. Quán cà phê thất sắc hồn kinh. Bảy Mẫu cũng rút trong túi ra lưỡi dao Thái Lan cán vàng, nhọn lễu và bén như dao cạo. Thực hiện đúng câu Tiên hạ thủ vi cường, Bảy xỉa một nhát vào mặt Ba Đẻn, má phải cái mặt thịt lãnh trọn, máu bật ra xối xả… Đáng cái tội dễ ngươi…
 - Thằng nào nữa, cứ vô – Bảy Mẫu đứng dậy – Tao đang muốn ở tù.
 Ba Đẻn ôm mặt chận dòng máu chảy. Chạy. Đàn em chạy theo. Cả cái quán hả dạ. Cha chả. Xưa nay chẳng ai dám đụng đến Ba Đẻn, nay gặp vụ nầy thiệt khoái quá… Nhưng mà Bảy Mẫu chết chắc. Tụi nó báo công an là tiêu, cái tội đâm người có mang theo hung khí. Dám thưa không? Thưa là thòi ra hai chữ tại sao, sẽ có câu trả lời tại em thua bài. Thua ở đâu? Dạ ở… Là chết cả đám.

***
 Sáng ấy, quán cháo lòng đối diện quán cà phê, chả có ma nào dám vô. Bốn năm thằng cô hồn sống, trong đó có Ba Đẻn với cái mặt nghe đâu khâu bốn mũi, một miếng băng bằng nửa bàn tay đính trên mặt. Bị thương vậy mà cháo lòng, tiết canh, rượu đế đại ca tợp hớp nào ra hớp đó, mỗi hớp một ly xoay chừng. Cả bọn lạnh như đám ma tháng tám âm lịch… Cha! Cả bọn nầy là tiếng thở dài của Long Mỹ. Tuy chưa tiền án, nhưng tiền sự đầy một cần xé. Ném đá giấu tay, phóng hỏa đốt nhà, ai đó mặt sưng như cái chĩnh là nghi bọn Ba Đẻn liền. Biết là vậy, nhưng quả tang đâu? Còn cờ bạc? Lũ quỷ nầy tinh thông bẩy mươi hai phép địa sát, đố ai tìm ra đồng bạc giữa sòng. Bài chơi giải trí cho vui, có ai cấm không?
 Bên quán cà phê, ai cũng nghĩ đời Bảy Mẫu úa màu. Chớ sao. Đùa với cọp còn có cơ may sống, với sói thì vong mạng. Ba Đẻn không ngô khoai vụ nầy, còn gì danh tiếng bao nhiêu năm gây dựng? Giang hồ cười thúi cả đầu, nói chi mũi. Thứ thiệt bị một thằng sặc ruộng vuốt râu mà bó tay thì gác kiếm là vừa… Bữa nay dám nó chơi công khai lắm à. Không sợ sao ta? Đúng rồi, bị bắt cũng phải dằn mặt thằng nầy, trước hả giận, sau lấy lại cái uy. Giang hồ không tù, không ấp đâu phải dzô hàng… Lo mà trốn đi Bảy Mẫu ơi.
 Nhưng Bảy Mẫu không trốn. Bảy đến kìa. Trên vai là một con rựa loại một, bản bằng bốn ngón tay, mũi bằng. Loại rựa dùng để hạ cây, phát rừng ở Đông Nam Bộ. A! Cầm theo vũ khí phòng thân đây chớ gì. Dám chém không? Một mình dám chém năm thằng cô hồn không? Cha, khó trả lời dữ a. Để xem việc gì sẽ xẩy ra? Bọn Ba Đẻn nhìn Bảy Mẫu. Chắc chắn là hoang mang, xưa nay chỉ nghe thiên hạ dạ thưa, nay gặp kẻ thí mạng cùi, đã chơi bằng dao, nay còn thêm rựa. Mới rợi nên khó xử lý.
 Đằng trước quán cà phê có một gốc bạch đàn, chủ quán cưa bằng đặt lên đó một bình nhựa để bán xăng lẻ. Bảy Mẫu không vào quán, anh ta nhìn bọn cô hồn. Đặt ngón trỏ của bàn tay trái lên gốc cây, tay phải vung rựa lên và… Phập… Ngón tay bay vù, rớt xuống đất, máu xịt có vòi. Mặc kệ máu, Bảy lừ đừ đi qua quán cháo. Bọn Ba Đẻn bật dậy, mắt thằng nào cũng lộ sợ hãi và đầy ngạc nhiên:
 - Ê, Ba Đẻn – Bảy Mẫu nói – Tao biết bữa nay mày sẽ kiếm tao. Nhưng tao cho mày rõ. Bắt đầu từ hôm nay, nhà tao bị đốt là mày phải chịu trách nhiệm, cả bọn mày phải chịu trách nhiệm, rõ chưa? Con tao bị đứt một sợi tóc thì tụi mày có xuống địa ngục a tì tao cũng lôi lên.
 Nói xong Bảy đi về quán cà phê, Chủ quán mặt xanh lè, luống cuống, may bà vợ chạy lại tủ thuốc lấy bịch bông gòn, Ai đó cột đai chỉ huyết cho Bảy… Bất ngờ, thật bất ngờ. Bọn Ba Đẻn lủi thủi rời quán. Cha mẹ ơi, cái thân nó mà nó còn chặt, còn mình, nó sợ chi?
 Bảy Mẫu buồn? Hận? Hối hận? Tất nhiên, chỉ vì đam mê mà ba đứa con mồ côi mẹ vì chính mình, không tỉnh lại đâu phải người. Sáng nay Bảy manh động là vì sợ. Sợ trả thù? Sợ bầy con sẽ bị ném đá giấu tay? Có, nhưng ít thôi. Bảy sợ một cái khác mênh mông và to lớn hơn. Ăn sáng xong Bảy bảo:
 - Thôi ba đứa đi học, để nhà đó ba lo cho.
 Thằng Hải, con Thủy mang cặp đi, nhưng thằng Sơn – con lớn – không trả lời. Nó nhìn cha, rồi mang sách vở ra nổi lửa đốt sạch. Vừa đốt vừa lườm lườm nhìn Bảy. Đôi mắt của nó làm Bảy sợ, rõ nó hận cha. Và buồn rầu Bảy vác rựa lưng tưng đi, sẵn trớn dằn luôn Ba Đẻn để xua đi cái trống hoác trong lòng. Kể cũng vui, một nhát chặt tan một tập đoàn mà chính quyền bó tay, có mất tí máu cũng chẳng nhằm nhò gì. Kha kha kha cười cái coi. Chủ quán nghĩ thầm, thằng nầy điên thiệt rồi.
 Và thời gian qua, qua đi. Nó làm nhạt mờ tất cả. Vết thương nào rồi cũng lành. Ngón tay lành nhưng cụt. Lòng lành, nhưng mất. Từ một con ma bài Bảy hóa chân tu. Bảy xuống ruộng vác lúa thuê, đắp bờ mướn. Bốn mươi lăm tuổi của một thằng đàn ông, đầy phong độ của một nông dân. Đủ thứ máu trong người Bảy cuồn cuộn chảy. Trong đó có máu tình. Ồ, Bảy còn trẻ lắm.
 Và dưới ruộng Bảy gặp Tư Nhà.

***
 Tư Nhà trọn bốn mươi xuân. Gọn gàng và nhanh nhẹn. Dân nhổ mạ cấy thuê, không nhanh đâu có được. Bốn mươi nhưng lủi thủi.
 Sao vậy? Chồng con đâu? Trước có, nhưng chia tay lâu rồi. Sao chia tay? Thì đó, xưa có câu ba năm thì mít đóng đài, cây chanh có trái thì cây xoài phải ra hoa. Đằng nầy ở với phu quân từ hai đến ba mươi, một chục mùa xuân qua hạ tới, Tư Nhà chả hoa nhụy gì ráo. Thôi thì buông nhau để mạnh ai nấy tìm hậu duệ lo cái cơm ăn, nước rót lúc về già… Tư Nhà về anh ruột Ba Cửa. Ba Cửa vỗ hai tay đánh bốp:
 - Sao cô dại vậy? Ở với nó một chục năm giờ ra được cây vàng. Đã chia thì cái gì cũng phải hai chớ.
 Tư Nhà thở dài:
 - Thôi kệ. Ảnh cũng khổ lắm anh Ba.
 Đùng đùng giận. Ba Cửa phóng nhanh, giành đường, vượt ẩu bằng… xe đạp tới em rể. Đến, lửa tự động tắt khi thấy cảnh hai ông bà già, mắt mờ chân chậm. Thằng em rể không có nhà, hỏi cả chục câu cặp già lãng tai mới nói nó đưa vợ nó đi đẻ. Thì ra thằng em đã tự bước từ hồi nào rồi. Đành chịu.
 - Thì thôi – Ba Cửa nói – Đất đai phần cô còn đây. Cô không ở với vợ chồng anh được, cháu cô đông, nhà chật, anh chị lại nghèo. Đưa cây vàng đây tao cất cho cái cấp bốn, thiếu tao bù. Mày cầm vàng trong tay lỡ gặp thằng khác, lạt lòng, nó ăn là sạch nhách.
 Vậy là Tư Nhà có cái chui ra, chui vô. Hai phòng một gác lửng kể cũng khang trang. Bà chị dâu cho cái xe đạp có cái đỡ chân đi làm. Cóc ca, cóc cách hết cấy đến gặt. Nông nhàn Tư Nhà đi cắt cỏ bán cho những nông trang nuôi bò. Một mình lấy công việc làm niềm vui nên nhiều nhiều tiền, nhưng chợ đời đâu có bán thứ gì để lấp nổi cô đơn. Một anh cũng muốn trăm năm nhưng cái không con cũng phải chia tay. Buồn quá Tư đến chùa lạy Phật quy y, rồi xin xuống tóc. Ni sư trụ trì chùa rằng:
 - Mắt con còn nợ trần, ta không dám xuống. Thôi cứ sống như đang sống. Việc gì đến nó tự đến.
 Việc đến? Ấy là từ Liên Trì, Tư đến Long Mỹ gặt thuê. Bảy Mẫu đập lúa. Trung niên, da rám nắng vạm vỡ, cười bằng đuôi con mắt và cái miệng Bảy nói lời hoa mỹ. Tư Nhà bỗng nghe lòng phơi phới. Tuy nhiên nghe kể sự tích cũng kinh kinh… Giờ tu rồi đó, chớ trước là dân bán trời không văn tự.
 Ma đưa lối quỷ đưa đường. Tư Nhà theo Bảy Mẫu đoạn trường không ta? Không biết. Nhưng nhào vô lãnh ba cục nợ là hơi đoàn đoạn à. Ba Cửa mắng vô mặt em gái:
 - Mày có bị mát dây hông? Đang tự do tự tại lại nhào vô lãnh nợ. Có nghe câu tò vò mà nuôi nhện không?
 Vợ Ba Cửa xen vào:
 - Ông thiệt buồn cười. Ông yêu ai, lấy ai, có ai dám cãi không? Tình cảm người ta là trời định. Ông hay dữ ha?
 Ba Cửa nín. Không phải sợ vợ đâu nha, chẳng qua bả nói đúng. Mà đúng thì cô muốn làm gì đó thì làm. Về ở với Bảy Mẫu thì phải biết chiều ba đứa nhỏ, đừng để mang tiếng mẹ ghẻ con chồng. Còn cái nhà nầy tính sao? Thôi đưa chìa khóa đây, ai cần chị Ba cô cho mướn kiếm thêm mấy đồng…
 Vậy. Dân miền Đông mà, tính nhanh như sao xẹt. Tư Nhà về Bảy Mẫu chẳng rước chẳng đưa. Thôi mà, rổ rá cạp lại câu nệ chi ba cái tiểu tiết, quan trọng tình ăn ở cùng nhau. Khơi khơi không đẻ giờ có ba đứa con kêu bằng má hai như ai. Vậy là có nhờ há? Không dám đâu, ở đó mà nhờ. Hai đứa Hải, Thủy đến trường là một gánh kiền khôn. Áo quần, sách vở, học phí, học thêm… Trong hầu bao Tư móc ra, cả tiền cho thuê cái nhà ở Liên Trì. Trước, sáng nào Bảy cũng giặt đồ cho con, nay phần đó thuộc về Tư. Trước khi giặt Tư phải vo gạo nấu cơm. Phơi phóng xong là dậy cả nhà ăn sáng để kẻ đến trường, người đến chỗ làm. Cực vậy mà ngồi sau lưng chồng đến nơi làm việc, đời vẫn cứ phơi phới là phơi phới ơi.
 Hai đứa Hải Thủy quý má hai lắm. Gần hai năm chịu cảnh mồ côi, chúng đã thấm nỗi đau. Nay có kẻ tự nguyện làm hết phần của mẹ, còn bôn ba theo cha kiếm đồng tiền, không quý sao đang? Duy có thằng Sơn lầm lì ít nói, Tư chả biết tâm tình nó làm sao. Sơn gọi cha bằng ông xưng tui. Gọi má hai nhưng vẫn tui. Bảy không nói gì nên Tư không ý kiến. Mình có đẻ, có nuôi đâu mà dám nói. Kệ đi. Nói ra ưng lên nó xướng “Bà đâu phải má tui” là chết cha.
 Đời đâu phải mơ. Sông đâu mãi hiền hòa. Thời hiện đại chủ ruộng sạ lúa, máy suốt chạy ì ì. Cấy lúa nhổ mạ người ta không ngó. Đập lúa hả? Xin về thời nguyên thủy đi em. Bảy Mẫu dẫn vợ đi phụ hồ. Một tay ngoài Hà Tĩnh truyền cho cách cầm bay thả dọi. Bảy lên thợ. Có vậy hai đứa nhỏ mới leo qua được cái cầu cấp hai lên cấp ba… Chao! Cả cái xã Long Mỹ ai cũng ganh – Bà mẹ nó – con người ta ở với mẹ ghẻ mà ngon lành chưa kìa, học kỳ nào cũng xuất sắc, còn con mình… Tổ cha bây, đi mà xách dép cho anh em thằng Hải con Thủy… Hết ganh thiên hạ lại cười nhạo: “Mẹ Tư Nhà ngu tầm khủng à, ăn nhín nhịn thèm làm thân tò vò nuôi nhện, nuôi sâu, ba bữa ngồi tỉ ti khóc cho xem”.
 Cha chả. Thằng Hải vào đại học. Chao ôi là nhiêu khê, đủ thứ kèm theo. Hai vợ chồng thiếu cái hụt hơi. May thằng Sơn cũng có tí trách nhiệm, đóng góp để gọi là lo cho em. Nhưng khi con Thủy vào cao đẳng thì Sơn tập tành để ria mép, miệng phì phèo thuốc lá thơm có cả mùi hèm. Thanh niên mà, ai cũng vậy. Gần một chục năm Sơn ít nhiều là anh tốt, có vậy nó nói một em nghe một, hai nghe hai. Không một giỗ mẹ nào nó không bắt hai em ở nhà. Rõ, nó thương và quý mẹ lắm lắm… Giờ có tự cho mình tiêu hoang một tí cũng chẳng sao, càng không sao nữa khi Hải và Thủy cũng tự lo cho việc học, bằng cách dạy kèm cặp đâu đó ở phố thị.
 Hải xong năm ba. Thủy xong năm một. Trong một bữa ăn đủ mặt gia đình. Sơn nói:
 - Ba à, tui tính cất nhà ra ở riêng.
 Cả nhà tròn mắt.
 - Tui lấy vợ – Sơn nói tiếp.
 Thủy reo lên thích thú:
 - Cha… Anh hai lấy vợ, em có chị dâu nha.
 Bảy Mẫu:
 - Gia đình con đó ở đâu? Nói để ba và má Hai chuẩn bị.
 - Khỏi. Nó ở “goài goãi”. Cha mẹ chết hết rồi, ở với anh và chị dâu không nổi nên vô đây bán quán. Hai đứa tui thương nhau. Nhà mình đông lại hẹp, tui phải ở riêng.
 Bảy trầm ngâm. Hai đứa em buông chén. Còn Tư Nhà? Má Hai đâu có ý kiến gì, chung nhà cả chục năm, nhưng má Hai và Sơn chỉ tường nhau cái vỏ, tâm tư chả biết đâu mà lần. Thôi, im lặng là vàng ròng.
 - Thì đất đó – Bảy Mẫu nói – Phần của mày một phần ba. Còn lại hai đứa Hải Thủy là hết chín trăm. Một trăm còn lại là tao với má hai. Tao chia vậy luôn để khỏi tranh cạnh về sau. Mày muốn cất đâu đó thì cất.
 Sơn đi. Hai đứa sinh viên cũng lên đường. Hai cái đầu lốm đốm bạc cùng nhau bàn tính. Gì đi nữa, cũng phải lo cho nó cái cấp bốn… Đừng tưởng cấp bốn là đùa chơi. Bốn, mười lăm vị chi sáu chục mét vuông. Bạn Bảy Mẫu xắn tay áo, nay tao xây cho mày mai mốt bữa kia con tao lấy vợ mày xây lại. Giờ chỉ lo bữa nhậu là xong. Ê Bảy Mẫu, số mày phúc lớn bằng núi Tu Di mới gặp Tư Nhà. Bầy con mày rõ cái đẻ bọc điều.
 Tư Nhà vừa phụ hồ vừa lo cái ăn cho anh em thợ vừa bâng khuâng. Sắp có con dâu… Cảm giác nghe là lạ. Mà con đó ở đâu ta? Mặt mũi ra sao? Bán quán. Mà quán gì mới được? Cái thằng nói lấy vợ như người ta nói chơi, phải chi nó dẫn con nhỏ ghé qua nhà thì hay quá… Nhà lợp xong:
 - Bảy Mẫu nè – Bạn thợ bàn – Mày ráng đâu đó thêm vài bao xi, hai khối cát, tô bên trong cho nó lịch… Đâu có tốn tiền công mà mày lo.
 Ráng? Ráng đâu bây giờ? Tư Nhà cắp nón, đạp xe về Ba Cửa:
 - Mượn nhiêu? – Ba Cửa e hèm – Chừng nào trả? Thằng Sơn lấy vợ hả? Con nào? Trời đất “goãi” nào cũng không biết sao? Bán quán hả? A… dám cái quán Hoài Thương Hoài lắm à. Hôm nọ tao được thằng chủ dẫn vô quán đó rồi… gặp thằng Sơn trong đó luôn.
 Là sao? Tư Nhà ngơ ngác, Thì cô cứ vô thử quán đó rồi biết.
 Tư Nhà đạp xe về. Đường về đi ngang Hoài Thương Hoài, quán lá, tùm lum võng. Trưa nắng cháy ghé uống ly cà phê đá rồi về coi thử ra sao. Quán vắng. Một mụ, tuy sổ sể nhưng lông mày kẻ, mắt bén như dao. Túm tụm trên chiếu là sáu con đều ran mắt xanh môi đỏ đang xòe tứ sắc. Bốn con đánh, hai coi chơi.
 - Kiếm ai dzậy bà nội? Sổ sể hỏi.
 Trời đất! – Tư Nhà ngạc nhiên – Hỏi kỳ không? Quán xá khách vô hỏi thiệt kỳ. Cho ly cà phê đá, bà chủ. Khát nước quá.
 Cà phê bưng ra đánh cộp trên bàn, quay ngoắt người trở lại võng, chả tiếp… Xong ly cà phê, ngồi thêm một lát thấy chả động dạng, Tư dợm chân định về thì một chiếc đờrim trờ tới. Trên xe là hai anh tầm sáu mươi có lẻ. Tó xe mới đá xuống, hai trong sáu mặt hoa đon đả, chạy ra lôi tay kéo chân, thân tình như đã quen nhau tự kiếp nào… Khách được dìu vào tận bàn, chân gác lên đùi, tay xé khăn lạnh lau mặt cho anh… Còn hôn nữa. Mẹ ơi, Tư Nhà trố mắt, con nhỏ mười tám hai mươi hun người đáng tuổi cha chú mình. Cái nầy người ta bảo bán vốn tự có chớ quán xá gì. Mô Phật, mong là thằng Sơn không có quen cái loại nầy.
 Tư về nhà. Cái gì cũng phải thông qua khâu chờ đợi. Tuy lòng có mỏi, nhưng ngày thằng Sơn đưa vợ về ra mắt gia đình cũng phải đến. Hai đứa Hải, Thủy, cả Bảy Mẫu đều thú vị những nụ cười. Riêng Tư Nhà “Bồ Tát, Ma Ha Tát” trong tâm mong đừng là một trong sáu.
 Nhưng kìa. Không những là một trong sáu. Mà con nhỏ có tên Mây Hồng nầy lại là một trong hai…
***
 Tư Nhà muốn nói với chồng lắm, nhưng nói gì? Nói làm sao? Khéo lại mất lòng người mình chưa hiểu được. Không nói thì ậm à ậm ực. May quá vấn đề được Bảy Mẫu đặt ra. Té ra chồng cũng rành:
 - Sơn à – Bảy Mẫu nói – Con Mây Hồng bán quán ôm hả? Mày nghĩ sao mà quen với nó vậy?
 - Chuyện của tui – Sơn gằn giọng – Mặc kệ tui. Bán quán ôm không phải là người à? Tui thương ai tui có quyền lấy người đó… Nó có làm đĩ tui cũng lấy, miễn không giết người thì thôi.
 Sơn nhấn mạnh hai chữ “giết người”, Tư Nhà rõ mặt chồng tái mét, môi run run:
 - Mày…
 - Ông lấy bà Tư ai cấm ông? Bộ ông nghe bả hả? Con Mây Hồng nói hôm nọ bả có ghé qua quán. Rồi sao? Bà Tư cũng đâu có tốt lành gì, hai ba đời chồng rồi nối chấp với ông. Nói thiệt với ông, chuyện má tui chết tui không bao giờ quên đâu. Ông đừng có xen vào chuyện tui. Còn bà nữa – Sơn quắc mắt nhìn Tư Nhà – Bà méc với ổng hả? Bà nghĩ bà là ai? Là gì trong cái nhà nầy?
 Bảy Mẫu đứng phắt dậy. Hai tay ôm lấy ngực… Cái nầy gọi là giận dữ đây chớ gì. Tuổi cao, huyết áp cao, trưa nắng lại có tí men vào người. Tư Nhà đã nhiều lần cẳn nhẳn cằn nhằn rằng bác sĩ bảo ngưng lại, bớt lại. Cái gì Bảy cũng bớt được, nhưng rượu thì không. Còn nói, cái gì cũng bỏ hết rồi, có tí rượu bỏ nữa thì chết cho xong… Bảy ôm ngực lảo đảo, bước một bước và ngã ngang, chiều cao mét bảy, nặng tầm bảy mươi ký, đầu Bảy đập vào… cạnh của cây cột gỗ căm xe – cột vuông – cái chỗ hơn chục năm trước lấy mạng bà Bảy.
 Lần nầy là Bảy Mẫu.

***
 Tôi với Sơn là bạn, bạn thân. Hai bên gia đình cũng chỗ thân tình. Tôi có tí tình với Thủy. Cái thứ tình đơn phương, tuy thầm lặng nhưng cháy bỏng. Ba cái tình không dám nói nó làm khổ con người lắm lắm. Nhưng nói làm sao? Tôi không qua nổi lớp năm, gia đình nghèo túng phải dừng cuộc chơi chữ nghĩa, kiếm cơm với nghề cắt cỏ bỏ cho mấy nông trang nuôi bò. Một thằng lớp năm yêu một cô sinh viên nó giống như ông bà nói đĩa đòi đeo chân hạc. Đau cái, chưa mặc áo dài Thủy đã làm chết hồn tôi. Lên cấp ba, áo trắng tha thướt tôi càng đau tợn. Thủy rớt đại học, tôi mừng lắm, nếu nàng nghỉ học, tôi có cửa để hoài mong, ai ngờ cô vào cao đẳng… Lớp bảy, mẹ mất Sơn phải bỏ học theo tôi. Thân lắm nên mẹ Sơn vì sao mất tôi tỏ tường. Ngày ông Bảy qua đời, tôi đến phụ đám mà ớn lạnh khi nhìn cây cột lấy mạng cả hai ông bà chủ. Cha tôi cũng ớn:
 - Mẹ – Ông nói – Cái nhà đó có huông rồi, gặp tao, tao bán quách. Mà bây giờ có bán, người biết họ cũng không dám mua.
 Ông Bảy mất, cô gái có tên Mây Hồng cũng có một vành khăn sô. Sau lễ thất nhật, Hải, Thủy trở lại trường. Sơn và Mây Hồng có nhà riêng. Thú thật, tôi và Sơn lớn lên cùng nhau, hết cắt cỏ, đến phụ hồ rồi thợ. Đi đâu cũng có nhau cả mấy cái đèn mờ thời mở cửa, nơi quyến rũ bậc nhất bọn mới lớn. Tôi, nói thật nhé, không xạo đâu, cũng có tới, nhưng chả dám ôm ai vì quanh tôi đâu cũng có hình bóng Thủy. Sơn khác, nó đến và rồi không hiểu sao đắm Mây Hồng. Cô gái nầy với tôi không lạ, đã có lần cô ngả ngớn với tôi. May mà tôi không động dạng gì, nếu có, bây giờ chả biết ăn nói làm sao. Tôi không, nhưng những đứa khác chả từ, thấy Sơn lấy Mây Hồng cả bọn vỗ bụng cười. Đứa nào cũng “hả, trời ơi, trời đất ơi, thiệt vậy không?”
 Một tháng sau đám Sơn thoại mời tôi đến nhà chơi. Từ khi Sơn vợ chồng với Mây Hồng tôi không mặn tình lắm, nhưng nghe Sơn nói có cả Hải và Thủy nên tôi đến. Rõ cái si tình, nó luôn làm người ta mê đi, không tự biết thân mình.
 Nhà đủ mặt với bữa cơm thân mật, sau đôi ly. Sơn nhập cuộc:
 - Lô thổ nầy người ta ngã giá tao một tỉ. Cơ hội nầy có một. Đất đang sốt, không biết xuống lúc nào. Tao quyết định bán, hai đứa bây mỗi đứa ba trăm, còn phần tao bốn trăm vì hai đứa bây còn có cái vốn trí thức, tao dốt, hai đứa nghĩ sao?
 - Anh chia gì kỳ vậy? – Hải nói – Trước khi cất nhà cho anh, ba đã nói…
 - Đó là ổng nói. Miếng đất nầy nếu má không dùng tính mạng giữ lại thì giờ nó vô sòng xóc đĩa rồi. Tao đã quyết là phải vậy, Không bàn nữa.
 - Nếu không có phần của má hai, em không thuận ký bán đâu.
 Thủy nhỏ nhẻ (tôi yêu cái nhỏ nhẻ nầy lắm, chết được tôi cũng chết):
 - Anh Hải nói đúng rồi anh hai. Má Hai lo…
 - Lo cái gì? Tao không ân oán gì với bả hết, Oán ân là hai đứa bây, không phải tao. Muốn trả ân nghĩa gì bây cứ lấy phần bây mà trả nghĩa, tao không biết. Tao chia vậy là sòng phẳng, bây chả nợ nần gì tao… Tao cần vốn làm ăn.
 - Thôi – Má Hai xen vào – Đừng tính phần của má trong căn nhà nầy. Má cũng có nhà, mấy con yên tâm đi.
 - Rồi, vậy đi.
 Nói xong Sơn đứng dậy. Tôi cũng bước.
 Hải vói theo, giọng có vẻ giận:
 - Tôi không ký bán đâu.
 - Em cũng vậy – Thủy nói.
 Tôi theo Sơn ra bờ suối Cả, nơi mà mỗi khi buồn chúng tôi vẫn đến để tâm sự. Nằm gối đầu lên tay, tôi nói:
 - Mày xử sự vậy là không phải đâu. Không có dì Tư, dễ gì em mày được như hôm nay.  Tao nói thật, còn sống chưa chắc má mày đã làm được như dì Tư đã làm. Mày có ăn miếng cơm bả nấu không? Bả có khi nào giặt áo quần cho mày chưa? Đừng nói với tao là chưa nghe. Mày có ăn miếng cháo, uống liều thuốc bả đưa khi mày bịnh hoạn không? Chắc không đâu há? Em mày sẽ nghĩ gì khi mày xử như vậy? Thôi tao về…

***
 Nửa đêm ba thức tôi:
 - Tuấn, dậy đi. Thằng Sơn kiếm mày.
 Tôi cực ngạc nhiên khi đồng hồ điểm một giờ sáng:
 - Mày đi đâu giờ nầy vậy? Có gì không?
 Yên lặng rất lâu. Và mọi chuyện lần lượt thòi ra. Kết luận Mây Hồng đã ôm sạch tiền bạc của Sơn một đi không trở lại.
 - Thật đáng buồn – Tôi nói.
 - Mẹ nó – Sơn chửi thề – Con khốn kiếp. Giờ tao không biết ở đâu.
 - Hải và Thủy bây giờ ở đâu?
 - Hai đứa mua lô thổ của Hai Nho ở ấp xóm Gốc, giờ đang ở đó.
 - Còn dì Tư? Bả sao rồi? Mày…
 - Tao cũng có giao một trăm cho hai đứa Hải Thủy biểu tụi nó đưa cho má Hai. Tao cũng hơi quê, khi nghe mày nói tao vô cảm. May mà đưa, nếu không giờ này tao chết cũng không hết cái nhục.
 Tôi châm bình trà, yên lặng nghe Sơn thở dài. Chả biết nên sao với nó… Ba tôi bảo:
 - Con với thằng Tuấn, sáng mai đến Liên Trì thăm bà Tư, hỏi thăm sức khỏe bả, gì bả cũng má bây hơn chục năm nay.
 Sơn ảo não:
 - Con còn mặt mũi nào nhìn má Hai nữa chú. Con tệ quá.
 - Nghĩ được như vậy là tốt rồi. Người còn của còn, mày đừng buồn. Không có gì quan trọng đâu, người già nhớ nhiều về kỷ niệm lắm, họ không chấp đâu. Tin tao đi.
 Tôi đưa Sơn đi. Bây giờ nó thật sự không còn gì. Cả cái xe cũng bị tình mang theo mất dạng. Thật ngậm ngùi. Càng ngậm ngùi hơn khi nhìn mái tóc muối nhiều hơn tiêu của bà Tư. Mắt đăm chiêu đầy xa vắng. Bà hỏi:
   - Con khỏe không Sơn?
   - Dạ – Sơn trả lời – Con khỏe lắm, má Hai.
 Tôi đưa mắt nhìn căn nhà. Trời ơi. Nhà cất từ thuở nào, thời gian làm mái tôn thủng lỗ chỗ. Mấy cây đòn tay bằng gỗ, mọt rơi trắng xóa. Sơn hỏi:
   - Sao má không sửa lại nhà hả má? Dzầy rồi mưa làm sao ở?
 Tiếng ông Ba Cửa oang oang làm hai chúng tôi giật mình:
   - Mày hỏi tao nghe thiệt buồn cười. Tiền đâu mà sửa? Má hai mày lấy chồng nuôi con chồng hơn chục năm, chồng chết chia được cái nón rách, lấy gì mà sửa chữa?
 Tôi và Sơn trố mắt. Ngay tức khắc tôi hiểu, nhưng Sơn không, nó nói:
   - Ủa, thằng Hải, con Thủy không đưa tiền cho má sao? Con có đưa cho má một trăm triệu mà?
 Tôi không chận được lời Sơn nói. Chao ôi là đau đớn, tôi thấy rõ vẻ ngơ ngác trong mắt bà Tư. Chắc bà hy vọng lắm niềm thương yêu của hai đứa con chồng mà bà rất nhiều tâm huyết mong chúng nên người. Giờ đây cái đứa bà không hiểu mấy, đã ít nhiều nặng nề với bà, lại thế nầy đây. Bà có cần không một trăm triệu ấy? Cần chứ, nhà mục nát, ông anh bà chị mỉa mai. Số tiền ấy ít nhiều cũng tạm cho bà khi già xế bóng. Vậy mà… trời ơi.
 Ngay lập tức Thủy trong lòng tôi mất sạch.
---------------------------------------------
* nguồn: Báo Văn Nghệ số 19 ngày 12/5/2012