Những Câu Chuyện Bên Lề được viết dưới đây kể lại
chuyện về một bài Thơ (Lệ Đá Xanh) của Thanh Tâm
Tuyền, được 2 nhạc sĩ tài danh Cung
Tiến và Phạm Đình Chương cùng phổ thành (nhạc) Lệ Đá Xanh và
Nửa Hồn Thương Đau, một trùng hợp không chủ đích cùng thời điểm vào một đêm mưa
tầm tả ở Sài Gòn.
Trong giây phút xuất thần, người Nghệ sĩ đã nắm bắt được
những sợi tơ từ Trời, như Nguyễn Du với "màu quan san":
"Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san...".
hay Trương Kế trong Phong Kiều Dạ Bạc, nơi Hàn San tự ở ngoại
thành Cô Tô, với "đối sầu miên" và "dạ
bán chung thanh đáo khách thuyền", tức cảnh chợt sinh tình, mà nên những
kiệt tác.
1. Lê Tấn Lộc kể:
Đêm ấy mưa tối trời, mưa dầm dề, mưa
thúi đất, mưa ngập đường sá, mưa xối xả trên thành phố Sài Gòn khi vũ trường đã
tàn cuộc vui cho quên ngày tháng nghiệt ngã, khi hoa đăng đã tắt với giọng hát
“vượt không gian và thời gian” cùng lúc với Đêm Màu Hồng vụt
tối đen, ẩn hiện dật dờ qua hằng hà sấm chớp lập lòe cuồng nộ…
Hai người đàn ông choàng vai nhau khệnh khạng đi dưới cơn mưa
tầm tã, ướt đẫm, vừa bước đi vừa chuyền tay nhau kề miệng tu chai Courvoisier.
Người gầy guộc, cao nghệu có vẻ còn đi đứng vững vàng, cố lôi anh bạn thấp bé
của mình đã quá “xiêu vẹo” băng qua quãng đường lầy lội, hướng về chiếc Ford
Cortina. Tôi ngồi sau tay lái… chờ đã khá lâu. Nửa giờ trước đó, nhìn hai bạn
tôi quá chén lạc hoan, tôi lặng lẽ rời bàn rượu khi bài ca cuối chuẩn bị kết
thúc đêm vũ trường vừa bắt đầu, ra lấy xe đến đón họ cho an toàn: chúng tôi hẹn
đến nhà anh bạn nhạc sĩ tiếp tục cuộc vui. Trên đường đi, hai bạn tôi vẫn tiếp
tục tu rượu không ngưng nghỉ. Bỗng nhiên, anh bạn thấp bé bá cổ anh bạn cao
nghệu líu lưỡi thì thầm:
"Mưa cuối mùa
mùa mưa cuối cuối mùa mưa mưa cưới mùa mùa cưới mưa
nói làm sao đây hỡi
chương khi giọt rượu đã ngủ gục trên môi khi ánh sáng không còn là ánh sáng khi
tiếng ca không còn là tiếng ca đêm đêm nhìn mặt micro nhổ ra từng mảng phổi
khi đó người con
gái lui vào bóng tối ném nụ cười cùng mồ hôi xuống sàn gỗ “tu gagneras ton pain
à la sueur de ton front” tiếng vỗ tay đì đẹt đừng ngó nữa nghe chương chúng ta
chỉ còn lại chiếc lưỡi tê cứng này với cơn mươi cưới mùa xin lỗi mua cuối mười
cươi múa mùa mưa muối cười xin lỗi xin lỗi
mưa cuối mùa mưa
cưới mùa
đêm đó băng qua hẻm
khuya dầm mưa về
gian nhà tối anh
chợt nghĩ nếu tình yêu
không có trong cuộc
đời này thì khốn nạn
biết mấy
đêm đêm anh chỉ còn
là con hình nộm nổi trôi từ căn nhà đến bục hát từ bục hát đến căn nhà anh
thảng thốt mỗi cột đèn mỗi bức vách mỗi cánh cửa mỗi ổ khóa là tiếng nguyền rủa
không nguôi
vào một buổi trưa
nắng nứt rạn anh nằm một mình thoáng nghe nụ cười suối mát chảy ngoài ngõ anh
chợt nhớ bàn tay bàn tay nào bối rối đôi mắt nào thơm ngoan những hồi hộp bé
con những lời không dám nói hơi thở không dám gần bấn loạn không dám đưa
anh biết rằng tuổi
trẻ mình tự bao giờ đã hết
Chương ơi thôi đã
hết...".
Bài thơ Mưa cuối mùa, do Kiệt Tấn cảm hứng ứng khẩu tặng Phạm Đình
Chương -danh ca Hoài Bắc
trong Ban Hợp Ca Thăng Long trước đây- ra đời như thế đấy. Bài thơ sau đó xuất
hiện trên tập thơ đầu tay của Kiệt Tấn, Điệp khúc Tình Yêu và Trái Phá do Sáng Tạo (với sự trợ giúp tận tình
của nhà văn Doãn Quốc Sĩ) xuất bản tại Sài Gòn, năm 1966. Và mới đây, mùa hè
năm 2008, nhà văn Trần Hoài Thư (trong Thư Ấn Quán Hoa Kỳ) đã bỏ nhiều công sức
đánh máy lại, giúp tái bản...
Anh bạn nhạc sĩ, dù đã chếnh choáng hơi men
vẫn cố gắng tiếp tôi dìu đỡ hai ông bạn đã say khướt vào an tọa nơi phòng
khách. Gia chủ ngồi vào dương cầm dạo vài khúc nhạc tạo không khí “văn nghệ”.
Hai chàng “ẩm sĩ” gục đầu vào nhau ngủ… ngồi! Chỉ mình tôi còn khả năng trò
chuyện với anh chàng nhạc sĩ. Bạn tôi cho biết vừa phổ nhạc xong bài thơ Lệ đá xanh của Thanh Tâm Tuyền, cũng là chỗ quen biết với nhau
cả. Riêng tôi, dù cùng khóa 14 SVSQTB/Thủ Đức, tôi ít có dịp gặp Thanh Tâm
Tuyền, mà có gặp cũng ít khi trò chuyện. Vả lại lần đầu chạm mặt với anh cũng
không được vui vẻ lắm. Lần đó, tôi hơi to tiếng với anh vì một lời nói có vẻ
“kẻ cả” của anh trong tiệc rượu mừng tập thơ Điệp Khúc Tình Yêu và Trái Phá đã
được trình làng, tại nhà Kiệt Tấn, đường Bạch Đằng (Gia Định), qui tụ vài văn,
thân hữu, trong số có Cung Tiến -người
đang ngồi dạo dương cầm trước mặt tôi đây. Vài hôm sau, TTT tâm sự với Cung
Tiến (mà trước đó tôi chưa biết cũng là cây viết mang bút hiệu Thạch Chương,
trong nhóm Sáng Tạo) rằng anh rất tiếc đã lỡ lời trong lúc “rượu vào lời ra”,
làm buổi họp mặt thân mật hôm ấy mất vui. Mãi sau nầy, có dịp trao đổi vài câu
chuyện tôi mới bắt đầu có cảm tình và quí trọng nhà thơ lúc nào đôi mắt cũng
ươn ướt. Và càng mến mộ anh hơn vì, cũng như tôi, anh chọn đơn vị tác chiến khi
ra trường để thực sự đối mặt với cuộc chiến, chia sẻ khổ nhọc, hiểm nguy cùng
binh sĩ trên trận tuyến hơn là ấm a ấm ớ như đám trí thức “dỏm” tự cho “đứng
trên mọi lập trường”, ầm ĩ lên giọng phê phán, chỉ trích những người trong cuộc
đang đổ máu trên chiến trường, để rồi phách lối hiu hiu tự đắc coi mình như
người ngoài cuộc!
Cung Tiến dạo nhạc đưa giọng, khe khẽ hát:
“Tôi biết những người khóc lẻ loi...”. Rồi ngưng hát, vừa tiếp tục đàn bản nhạc
anh đã phổ thơ, vừa đọc tiếp bài thơ Lệ đá xanh của Thanh
Tâm Tuyền:
"Tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình
em biết không
lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời chỉ còn trời sao là đáng kể
mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em
đến ngày cuối
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời thơm phức những trái cây của thượng đế
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em
nguồn sữa mật khởi đầu
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em
vòng ân ái
đôi khi anh muốn tin
ôi những người khóc lẻ loi một mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi...".
Hai ẩm sĩ choàng tỉnh, chăm chú lắng nghe… Cung Tiến rời
dương cầm, rót rượu mời bạn.
Ly
rượu trên tay, Phạm Đình Chương thong thả bước tới ngồi vào piano dạo nhạc mở
đầu… cất tiếng hát buồn bã:
"Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa…
Cho tôi về đường cũ nên thơ…
Cho tôi gặp người xưa ước mơ…
(…)
Giọng hát trở nên vô cùng tha thiết, đến đoạn điệp khúc:
"Đôi khi anh muốn tin
Đôi khi anh muốn tin
Ôi những người
Ôi những người
Khóc lẻ loi một mình
Khóc… lẻ loi… một… mình……….".
Phạm Đình Chương ngồi bất động trước dương cầm. Chúng tôi bồi
hồi xúc động… Sáng tác Nửa hồn hương đau của
PĐC chào đời như thế đấy, muộn màng về sáng, sau một đêm mưa ồ ạt, dai dẳng…
Mưa mãi mưa hoài mưa chẳng dứt
Đêm dài đằng đẵng đêm bao la…
Đột nhiên, Cung Tiến, đứng phắt lên phá tan sự im lặng trầm
ngâm của anh em, chỉ tay về hướng PĐC gắt gỏng:
- Toa biết cái “đếch” gì về mélodie…!
Kiệt Tấn và tôi đứng tim! PĐC không phản ứng, nâng ly chào
bóng mình in trên tường, chậm rãi uống nốt những giọt rượu còn lại, lặng lẽ rời
chiếc dương cầm…
Bỗng nhiên Cung Tiến bước nhanh tới choàng ôm Phạm Đình
Chương:
- Moa xin lỗi toa, Chương! Moa nói bậy hết sức. Mọi người
cũng như toa đều biết moa rất quí toa và ngưỡng mộ tài năng sáng tác nhạc của
PĐC mà!
Chúng tôi cũng như PĐC, tuy không nói ra, nhưng ngầm hiểu CT
“lỡ lời” (lỡ lời “kẻ cả” như TTT tại nhà KT chăng?).
Có điều Kiệt Tấn và tôi rất rõ mà không muốn nói ra là… Có lẽ
chỉ vì PĐC đã phổ một đoạn thơ TTT! Một trùng hợp không chủ đích: Cung Tiến và Phạm Đình
Chương phổ thơ Thanh Tâm Tuyền cùng thời điểm một đêm mưa trên đường phố Sàigòn
ngập nước!
Tuy nhiên, chúng tôi cũng lấy làm ngạc nhiên thấy CT “hạ
mình” xin lỗi PĐC (chuyện hầu như chưa bao giờ xảy ra với CT!). Cũng như không
mấy khi TTT “hạ mình” ngỏ ý “tiếc” đã lỡ lời… với KT trước đây!
- Các toa ngồi yên đấy nhá, Cung Tiến vỗ vai Phạm Đình Chương
nói. Moa lên lầu lấy chai Johnny Walker, Black Label, 15 Years Old…
Chưa đầy 5 phút đã thấy CT khệ nệ cặp nách chai quý tửu từ
trên cầu thang tuôn nhanh xuống. Không may, chàng vấp chân ngã nhào, lăn đùng
trên sàn gạch, tay vẫn ghì chặt chai rượu quí, “lấy thân che của”! Chàng loạng
choạng nhổm dậy, sờ tay vào hàm răng rướm máu, tay trái lấy ra một mảnh răng,
tay phải giơ cao chai quí tửu, cười xòa:
- May mà không bể chai Johnny Walker! Chà! Mẻ chiếc răng cửa
thế này còn làm sao thổi kèn haut-bois được nữa đây!
Những năm về sau, từ Tết Mậu Thân trở
đi, gần như tôi ít có cơ hội gặp lại PĐC vì không lần nào nữa tôi trở lại Đêm
Màu Hồng, từ dạo ngài phó-tông-tông-phi-công-râu-
kẽm-nặng-mùi-biểu-diễn-đồ-bay-khăn-tím-choàng-cổ được lũ khỉ đột cận vệ
(gorille) bao kín giữ an ninh cho chàng leo lên bục trình diễn độc chiếm micro
thao thao “sướng” hát! Tiếc thay, ngày PĐC từ giã cõi đời tại Cali , năm 1991,
tôi không đến được để tiễn đưa anh về cõi an nghĩ đời đời…
Với CT, tôi chỉ tình cờ chạm mặt một lần tại
Pointe-des-Blagueurs (nhà hàng Ngân Đình), năm 1973, khi KT và tôi ngồi đối ẩm
nói chuyện trời trăng mây nước cho qua ngày tháng. Chúng tôi nhận thấy CT thay
đổi hơi nhiều, từ ngày chàng ta “làm lớn” ở Bộ Kế Hoạch. Bạn tôi hầu như không
còn chút hoài niệm nào về thời điểm rất nguy khổn cho chàng sau khi chàng “ra
trường” Bộ Binh Thủ Đức trước khi mãn khóa, khiến tôi đã phải “liều mình” giải
cứu chàng ra khỏi Trung Tâm 3 Tuyển mộ Nhập ngũ, nơi chàng nằm chờ ngày bị tống
đi Quân khu II! Ra hải ngọai, tôi cũng chẳng có dịp gặp lại chàng, ngoại trừ vài
lần nói điện thoại viễn liên. Dẫu sao bạn tôi vẫn còn nhớ đến tôi, gửi cho tôi
ít tiền khi tôi vừa đặt chân lên Xứ Tuyết. Lần liên lạc gần nhất, năm 1991, là
lúc tôi cộng tác với một nguyệt san ở Toronto ,
chàng trả lời thư tôi: “… khám phá những hàng chữ ấy, tình cảm luôn luôn đậm
đà, thắm thiết của Lộc philosophe, Lộc sentimental và Lộc transparent…”. Sau đó
chỉ còn KT thỉnh thoảng liên lạc và sang Minesota chơi với chàng.
Với TTT, dù có một thời gian phục vụ cùng ngành trong quân
đội tại Sài Gòn, chúng tôi không có duyên gặp nhau trong công việc. Mãi đến
cuối tháng 3 năm 1975, lúc tình hình quân sự và chính trị miền Nam vô cùng rối
rắm, tôi mới gặp lại anh trong văn phòng trường tư thục Phục Hưng, nơi anh và
tôi cùng cộng tác… Lúc bấy giờ thủ đô nhốn nháo với các tin đồn về một vài
thành phố lớn ở miền Trung thất thủ hoặc bỏ ngõ. Tôi bán tín bán nghi, nhưng
thấy TTT nhìn trần nhà nhả khói thuốc, rồi buồn bã cúi đầu, tôi biết ngay Đà
Nẵng đã thực sự mất! Rồi… “di tản”, rồi “cải tạo”, rồi “vượt biên”, v. v… Bặt
tăm nhau luôn từ đó.
Cho đến khi tôi được Kiệt Tấn báo Cung Tiến và nhóm thân hữu
cầm bút đã đứng ra bảo lãnh cho TTT sang tiểu bang Minesota, năm 1991, nơi mà
sau đó hai nhà thơ Cung Trầm Tưởng và Tô Thùy Yên cũng được nhóm Cung Tiến bảo
trợ đến định cư. Liên lạc được với TTT, quả thật tôi rất đỗi vui mừng: ít ra,
cũng như tôi và một số hiếm hoi chiến hữu bị đày đọa chí cốt trong các trại tập
trung do Bắc Bộ Phủ chủ xướng, TTT vẫn sống còn…
TTT gửi tặng tôi tập thơ lục bát anh đã sáng tác trong tù, kèm
những giòng chữ rất thân thương mà đến nay tôi vẫn còn trân quí: «…Quả là bất
ngờ. Cảm ơn tấm lòng vẫn nhớ đến nhau… Năm 82 về đến Sài Gòn, được biết anh đã
vượt thoát những mừng cho anh. Sang đến bên này hỏi thăm Cung Tiến, nghe anh
sau chuyến vượt biển đã trở thành “nhà tu hành” lại cũng mừng cho anh (…), biết
anh mặc dầu long đong lận đận nơi Xứ Tuyết mà hồn vẫn còn “thơ thẩn” thong dong
ngoài cuộc mưu sinh, lại cũng mừng cho anh nữa...».
Tôi là người nhận được hung tin
trễ nhất Thanh Tâm Tuyền trở về với cát bụi. Có lẽ tôi không nằm trong danh
sách những cây bút đã “thành danh” chói rạng cần được ưu tiên thông tin… Đọc
tin trên internet, tôi vội vã báo tin cho KT. Hình như sau đó Nguyễn Xuân Hoàng
có làm một số VĂN đặc biệt về TTT. Tôi tự thấy không có kỷ niệm nào đáng kể về
“tình văn” với TTT nên không viết bài gửi cho NXH, dù Hoàng là chỗ rất thân
thiết với KT và tôi. Và tôi cũng không thể đến kịp lúc để nhìn lần cuối đôi mắt
ươn ướt ân tình của nhà thơ một thời khai phá cõi thơ tự do, trước khi chúng
vĩnh viễn khép kín từ biệt thân bằng quyến thuộc, rong chơi cõi vĩnh hằng…
"Chương ơi thôi đã hết
ôi những người khóc lẻ loi một mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi…".
(Lê Tấn Lộc, Thôn trang Rêu-Phong, Xứ Tuyết, vào Xuân…)
2. Nguyễn Việt kể:
Thanh Tâm Tuyền (1936-2006) vừa là một nhà thơ cũng là
một nhà văn nổi tiếng ở miền Nam trước
30/4/75. Ông tên thật Dzư Văn Tâm, sinh ngày 13/3/1936 tại Vinh, Nghệ An và mất
ngày 22/3/2006 tại Minnesota ,
Hoa Kỳ do bệnh ung thư phổi. Hưởng thọ 70 năm cộng với 10 ngày tròn trĩnh.
Theo tiểu sử thì nhà thơ nhà văn Thanh Tâm Tuyền vào Nam khi
còn rất trẻ. Vào đất Sài Gòn năm 1954 ông đã chủ trương nguyệt san Lửa Việt.
Sau đó, cùng nhà văn Mai Thảo (1927–1998) thành lập tạp chí Sáng Tạo năm 1957, lúc đó gồm Thanh
Tâm Tuyền, Mai Thảo, Nguyên Sa, Vũ Khắc Khoan, Tô Thùy Yên, Doãn Quốc Sỹ, Quách
Thoại, Lý Hoàng Phong, Lữ Hồ, Trần Thanh Hiệp, Thanh Nam... cùng các họa sĩ
Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Tạ Tỵ, Duy Thanh. Năm 1960, tạp chí Sáng Tạo ra bộ mới,
có thêm Cung Trầm Tưởng, Thạch Chương, Dương Nghiễm Mậu...
Tuy tạp chí Sáng
Tạo chỉ xuất bản không định kỳ có mấy chục số, nhưng đã đưa đến những đổi thay
cho sinh hoạt văn học ở miền Nam thời
đó. Trong đó thể loại thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền đã để lại cho lớp văn nghệ
trẻ nhiều ảnh hưởng sâu sắc. Năm 1962, Thanh Tâm Tuyền nhập ngũ, nên nhóm Sáng
Tạo từ từ tan rã mỗi người đi tìm một báo, một tờ tạp chí riêng để cộng tác
kiếm sống. Đến đầu thập niên 1970 đã tụ hợp lại trên tờ tuần san văn nghệ Nghệ
Thuật của Mai Thảo, hay nhóm bán nguyệt san Văn.
Theo Bùi Bảo Trúc viết
về Thanh Tâm Tuyền có những đoạn:
- "Thanh Tâm Tuyền bị hiểu lầm suốt đời và không được
đối xử xứng đáng trong khi ông còn sống. Nguyễn Ngọc Bích trong cuốn A Thousand Years Of Vietnamese Poetry
(tạm dịch "1000 năm thi ca Việt Nam") không chọn một bài thơ nào của
Thanh Tâm Tuyền để dịch và giới thiệu. Võ Phiến trong "Văn Học Miền Nam /
Thơ", chỉ cho Thanh Tâm Tuyền 1/3 trang và chọn của ông chỉ một bài thơ
trong khi ngay cạnh đó, Tô Thùy Yên được dành cho hơn ba chục trang, mặc dù
trong cuốn Văn Học Miền Nam Tổng
Quan, Võ Phiến có nhắc đến tên Thanh Tâm Tuyền đến 21 lần.
"Con đường ông đi, không đúng như tên tập thơ của ông,
tập "Tôi Không Còn Cô Độc" được xuất bản năm 1955, đã có nhiều người
đi theo bằng những bài thơ không vần, loại thơ ông đi những bước đầu tiên khai
phá, nhưng ông vẫn là người cô độc cho đến lúc chết".
Cho nên khi Nguyễn Hưng Quốc viết về Thanh Tâm Tuyền, cố giải
thích cho rằng người đọc phải động não khôi phục lại mối quan hệ kín đáo giữa
các câu thơ (và cả những chữ trong bài thơ) bằng nhưng liên từ và giới từ mà
Thanh Tâm Tuyền cố tình bỏ đi, thì mới hiểu hết ý thơ. Thơ tự do của Thanh Tâm
Tuyền có âm nhạc, nhưng không có vần. Cũng có thể nói là có vần nhưng vần bị
giấu đi:
... Em gối đầu sương xuống
Chuyện trò bằng bóng mình
Tôi đẹp như hình tôi
Như cuộc đời, như mọi người...
Còn Bùi Vĩnh Phúc viết: "hai tập thơ "Tôi Không Còn Cô Độc" và "Liên, Đêm, Mặt Trời
Tìm Thấy" của Thanh Tâm Tuyền, đã bày ra cho độc giả thấy ông rất kiêu
căng, ngạo mạn, lạnh lùng, cô độc, lãng mạn, thiết tha và mệt mỏi". Có lẽ
vì thế mà Thanh Tâm Tuyền bị nhiều nhà văn đi trước hiểu lầm ông suốt đời và
không được đối xử xứng đáng chăng khi có những tập sách biên khảo được xuất bản
thường không có tên ông, hoặc có thì thật ngắn gọn vô cùng?!
Từ khi sang Mỹ, Thanh Tâm Tuyền không làm thơ nữa. Ông thực
hành đúng như một câu ông đã từng nói vào năm 1975: "tôi là người làm thơ
Việt Nam ,
tôi ở với xứ sở của tôi". Nên khi ông không còn ở lại với xứ sở, ông không
làm thơ nữa. Một số thơ của Thanh Tâm Tuyền đã được hai nhạc sĩ Phạm Đình
Chương và Cung Tiến phổ thành những nhạc phẩm rất nổi tiếng, như Bài ngợi ca tình yêu, Dạ tâm khúc, Đêm
màu hồng, Lệ đá xanh, Nửa hồn thương đau.
Trong đó nguyên tác bài thơ "Lệ đá xanh" được Cung
Tiến giữ nguyên tựa thơ khi phổ nhạc, còn Phạm Đình Chương lấy tựa cho nhạc
phẩm của mình với tên gọi "Nửa hồn thương đau". Còn một nhạc sĩ khác
là Phạm Quang Tuấn cũng phổ nhạc bài thơ này nhưng không ai biết đến.
Tác phẩm của Thanh Tâm Tuyền gồm có: Tôi Không Còn Cô Độc (thơ, 1955), Liên, Đêm, Mặt Trời Tìm Thấy (thơ,
1964), Khuôn Mặt (truyện, 1964), Bếp Lửa (truyện, 1957), Dọc Đường (truyện, 1966), Ba Chị Em (truyện, 1967), Cát Lầy
(truyện, 1967), Mù Khơi (truyện,
1970), Tiếng Động (truyện, 1970), Tạp Ghi (1970), Thơ Ở Đâu Xa (thơ, 1990 Hoa Kỳ), Một Chủ Nhật Khác (truyện, Hoa Kỳ).
Sau đây thơ và nhạc Lệ
Đá Xanh của Thanh Tâm Tuyền, qua hai nhạc phẩm "Nửa hồn thương đau"
và "Lệ đá xanh":
Nguyên tác bài thơ: LỆ ĐÁ XANH
Tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi
ngoài tim mình
em biết không
lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi
đôi khi anh muốn tin
ngoài trời chỉ còn trời sao là
đáng kể
mà bên những vì sao lấp lánh
đôi mắt em
đến ngày cuối
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời thơm phức những trái
cây của thượng đế
mà bên những trái cây ngọt ngào
đôi môi em
nguồn sữa mật khởi đầu
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay
em
vòng ân ái
đôi khi anh muốn tin
ôi những người khóc lẻ loi một
mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi
(Bài thơ này đã được Phạm Đình
Chương, Cung Tiến và Phạm Quang Tuấn, phổ thành ca khúc).
Đó là chuyện kể về 2 bản Nhạc
nổi tiếng: Người Đi Qua Đời
Tôi , và Lệ Đá Xanh của 2 Nhạc sĩ tài hoa Phạm Đình Chương
và Cung Tiến, phổ từ thơ Thanh Tâm Tuyền.
Phạm Đình Chương và Thanh Tâm
Tuyền nay đã ra đi vĩnh viển, chỉ còn Nhạc sĩ Cung Tiến!…
-----------------
[sưu tầm]
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét